Tristhefall’s Blog

Just another WordPress.com weblog

TS Vũ Thành Tự Anh: Ổn định vĩ mô để tăng cường khả năng cạnh tranh

leave a comment »

VN đã tụt 5 bậc trong Bản báo cáo mới của WEF về chỉ số cạnh tranh (từ 70 xuống 75). Những bất ổn vĩ mô là nguyên nhân chính được WEF đưa ra. TS Vũ Thành Tự Anh, giám đốc nghiên cứu Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright trao đổi thêm với TTCT.

Nổi bật lên ở báo cáo là sự tụt hạng của Việt Nam từ thứ 70 xuống thứ 75. Trong cả 12 chỉ tiêu mà WEF sử dụng để đánh giá năng lực cạnh tranh quốc gia, các yếu tố như thể chế, cơ sở hạ tầng, giáo dục y tế … mình đều đứng nguyên hoặc tăng hạng, duy chỉ có chỉ tiêu ổn định vĩ mô sụt từ 70 xuống 112 do điểm của chỉ tiêu này giảm từ 4,9 xuống 3,9 (trên thang điểm 7). Rõ ràng đây là nguyên nhân duy nhất làm VN tụt hạng năng lực cạnh tranh từ 70 xuống 75.

Nhận xét thứ hai là trong ba nhóm nhân tố bao gồm những nhân tố cơ bản, những nhân tố cải thiện hiệu quả, và những nhân tố sáng tạo thì năm nay, nhóm nhân tố phản ảnh năng lực sáng tạo mặc dù là nhóm “cao cấp” nhất nhưng VN lại có thứ hạng cao nhất. Đây là điều ngạc nhiên thú vị vì bản thân WEF chia quá quá trình phát triển của các quốc gia thành ba giai đoạn theo mô thức phát triển phổ biến. Đầu tiên là dựa vào các yếu tố nền tảng (như gia tăng nguồn lực vốn, lao động), sau đó đến cải thiện hiệu quả (tăng hiệu quả của thị trường lao động, hàng hóa và tài chính), rồi cuối cùng mới đến sáng tạo (đột phá, đổi mới về công nghệ). Theo cách phân loại này, Việt Nam thuộc “giai đoạn 1”, thế nhưng trong năm 2009,thứ hạng của VN ở các nhân tố cơ bản lại đứng thứ thấp nhất (92/133), tiếp sau là ở các nhân tố hiệu quả (61/133), và trên cùng là ở các nhân tố sáng tạo (55/133), vượt xa hai nhóm nhân tố kia .

Nhận xét thứ ba là Việt Nam vẫn chưa khắc phục được “ba điểm lõm” trong năng lực cạnh tranh của mình, đó là cơ sở hạ tầng, giáo dục – đào tạo, và mức độ sẵn sàng về công nghệ.

Với sự đột biến đó chúng ta có thể tận dụng được gì chăng? Chúng ta đang ở nhóm nước thứ nhất và chúng ta thường cần nhóm các yếu tố cơ bản cho phát triển…

Nếu việc xếp hạng này là chính xác thì đang có sự không tương thích giữa mô hình và thực tiễn phát triển ở VN. Nếu như VN đang ở giai đoạn phát triển thứ nhất thì điều ta cần là nâng cao chất lượng thể chế, ổn định vĩ mô, cải thiện cơ sở hạ tầng, giáo dục cơ sở và y tế – là những chỉ tiêu của nhóm cơ bản. Các yếu tố này cũng trùng với những cái gọi là “nút thắt cổ chai” cho phát triển mà ở VN chúng ta đã thảo luận nhiều.

TS Vũ Thành Tự Anh cho rằng ở VN có nhiều doanh nghiệp "đánh quả"

TS Vũ Thành Tự Anh không cho rằng sự tụt hạng của VN là do khủng hoảng thế giới

Một số ý kiến cho rằng việc tụt hạng năng lực cạnh tranh của Việt Nam là do khủng hoảng kinh tế thế giới, anh bình luận gì về nhận định này?

Cần lưu ý là số liệu WEF công bố năm nay thực ra đã được thu thập từ cuối năm ngoái. Nghĩa là những thông tin trong báo cáo này phản ánh thực trạng của năm 2008 chứ không phải của năm 2009. Việc giải thích lý do tụt hạng là do khủng hoảng thế giới có hai điều không đúng. Thứ nhất, khủng hoảng thế giới ảnh hưởng tới tất cả các nước chứ không riêng gì VN. Thứ hai, khủng hoảng kinh tế thế giới chỉ bắt đầu tác động vào nền kinh tế VN từ cuối năm 2008, thế nên tác động của nó chưa được thể hiện đầy đủ trong báo cáo này. Trên thực tế, chính những bất ổn vĩ mô của năm 2008 như lạm phát, thâm hụt ngân sách, thâm hụt thương mại v.v. là nguyên nhân chính dẫn đến sự tụt hạng về môi trường vĩ mô của VN trong báo cáo của WEF năm nay.

Bất ổn vĩ mô từ trước khủng hoảng chứng tỏ nguyên nhân sâu xa nằm ở bên trong nền kinh tế VN?

Đúng vậy. Trước khủng hoảng kinh tế, chúng đã có những bất ổn vĩ mô như lạm phát, phát triển quá nóng, thâm hụt cán cân thương mại, tỉ giá đồng tiền bấp bênh, thậm chí có lúc NDF của USD/VND đã lên tới 24.000-25.000.

Nguyên nhân sâu xa của tình trạng bất ổn vĩ mô là nền kinh tế của chúng ta đi theo mô hình tăng trưởng dựa vào đầu tư, nhưng đầu tư lại kém hiệu quả, đặc biệt là trong khu vực doanh nghiệp nhà nước được thể hiện trong báo cáo mới đây của Ủy ban Kinh tế của Quốc hội. Trên nền tảng đó, sự đổ bộ ào ạt của các dòng vốn nước ngoài trong năm 2007 – 2008, cộng thêm việc tăng trưởng tín dụng quá mức trong một nền kinh tế chưa sẵn sàng hấp thụ một lượng vốn lớn đã làm kích hoạt lạm phát.

Một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của VN nữa là tỉ giá. Hiện nay, VND đang được định giá cao so với USD. Chúng tôi tính ra rằng nếu lấy tháng 1/2006 làm mốc thì tới đầu năm 2009, VND đã tăng giá khoảng hơn 20% so với USD. Khi chính phủ giữ tỉ giá này thì hệ quả tất yếu là sẽ làm giảm năng lực cạnh tranh của hàng xuất khẩu, không những thế còn khuyến khích hàng nhập khẩu. Như vậy nhập siêu có một phần nguyên nhân là do tỉ giá USD/VND không hợp lý.

Đâu là lý do khiến VN giữ tỉ giá tiền đồng cao vậy?

Quan điểm chính thống vẫn là Việt Nam cần giữ ổn định giá trị của đồng nội tệ. Tôi thì nghĩ là có hai lý do lớn. Thứ nhất là nỗi lo về nợ nước ngoài. Chúng ta nợ nước ngoài bằng tiền USD trong khi thu nhập chủ yếu lại bằng VND. Giả sử chúng ta điều chỉnh tỉ giá USD/VND không phải là 17.000 nữa mà là 20.000 thì ngay lập tức là gánh nặng nợ nần của VN tăng thêm rất nhiều. Tôi nghĩ nỗi lo này chỉ là một phần của câu chuyện vì nợ nước ngoài của VN hiện nay xấp xỉ 30% GDP, chưa đến mức đáng báo động. Nguyên nhân thứ hai là nếu tỉ giá USD/VND không phải là 17.000 mà tăng thêm khoảng 20%  thì GDP/người của VN không phải là 1.000 USD nữa mà chỉ còn 800 USD, đồng nghĩa với việc chúng ta chưa vào được ngưỡng các nước thu nhập trung bình thấp, một mục tiêu của kế hoạch 5 năm 2006-2010. Đấy không phải là mục tiêu kinh tế mà là mục tiêu chính trị.

YẾU HƠN SAU KHỦNG HOẢNG

Theo anh nói thì đây là con số của 2008, vậy theo quan sát của anh trong năm nay mình có những chuyển biến gì tích cực hơn không?

TS Lê Xuân Nghĩa, phó chủ tịch ủy ban giám sát tài chính quốc gia, có nói một câu tôi thấy là rất hay: “VN ra khỏi khủng hoảng không mạnh hơn, thậm chí có thể là yếu hơn so với thời kì trước khủng hoảng.” Tôi đồng ý với quan điểm này. Nếu nhìn tất cả 12 chỉ số được đề cập của WEF chúng ta thấy không có cải thiện nào lớn cả. Đặc biệt trong một số trường hợp có thể nói là xấu đi, đặc biệt liên quan tới chính sách vĩ mô.

Tôi lấy đơn cử vài ví dụ. Một số chính sách rất quan trọng từng đạt được trước kia giờ bị đảo ngược. Chẳng hạn quá trình tự do hóa lãi suất đến năm 2002 về cơ bản đã hoàn thành khi thống nhất là lãi suất được tự do không áp đặt lãi suất trần, khách hàng và ngân hàng được quyền thỏa thuận lãi suất. Nhưng đến 2008 thì chúng ta lại áp đặt quay trở lại lãi suất trần thông qua lãi suất cơ bản. Trong dự thảo luật ngân hàng nhà nước đang được soạn thảo còn muốn đưa luôn lãi suất cơ bản vào trong luật. Điều đó có nghĩa là chúng ta đã đi ngược lại với quá trình tự do hóa lãi suất – một quá trình chúng ta rất rất vất vả mới đạt được.

Các cải cách có tính cơ cấu như cơ sở hạ tầng, giáo dục cơ sở, y tế, hệ thống hành chính chúng ta cũng không được cải thiện. Nếu các yếu tố cơ bản đó không được cải thiện, thậm chí còn đi xuống trên phương diện vĩ mô thì khả năng có thứ hạng cạnh tranh cao hơn trong năm tới hầu như là không có.

VN sẽ yếu hơn về khủng hoảng, anh có thể làm rõ vấn đề này được không?

Xin phân tích yếu tố nguồn lực quốc gia mà cụ thể là ngân sách. VN là một trong những nước có thâm hụt ngân sách lớn nhất khu vực nhưng quy mô tương đối của gói kích cầu lại là lớn nhất. Điều đó có nghĩa là trên cơ sở thâm hụt ta lại phải chi thêm một lượng lớn nhất về mặt tương đối, 8 tỉ USD tương đương 9% GDP rồi trong khi thâm hụt ngân sách cũng khoảng là 8% GDP nữa, cộng hai cái đó lại thì có thể thấy thực trạng về ngân sách của ta tồi tệ đến thế nào nếu triển khai toàn bộ gói kích cầu như tuyên bố ban đầu.

Một yếu tố nữa mà tôi nói ở nhiều nơi đó là trong nhiều trường hợp những phản ứng của chúng ta làm khả năng và cơ hội cải cách sắp tới khó khăn hơn. Đơn giản ví dụ như các tập đoàn. Chúng ta triển khai mô hình tập đoàn thí điểm từ năm 2006 nhưng đến nay chưa hề có tổng kết, chưa hề có khuôn khổ pháp lý cho mô hình tập đoàn nhưng đã vội mở ra thêm 4 tập đoàn mới. Bên cạnh đấy Tổng công ty sông Đà và Tổng công ty xây dựng nhà cũng đề nghị thêm hai tập đoàn cho họ. Khi chưa tổng kết mà đã vội mở rộng thêm là một điều rất không nên. Đặc biệt khi chính mô hình tập đoàn là nguyên nhân gây ra bất ổn kinh tế năm 2008 và cũng là một phần nguyên nhân sự yếu kém của VN trong chống đỡ khủng hoảng. Tập đoàn là nguyên nhân chèn lấn nguồn lực, được tiếp cận đất đai, tiếp cận tín dụng và tiếp cận với thị trường, cụ thể là trong một số ngành họ có độc quyền. Chính những dễ dàng đó làm họ kém hiệu quả. Không những thế họ hấp thụ hết nguồn lực để dành cho các doanh nghiệp dân doanh. Bộ phận năng động có sức chiến đấu bền bỉ nhất thì lại bị hút mất hết nguồn lực trong khi đó bộ phận yếu hơn lại được bơm quá nhiều nguồn lực. Điều đó làm cho nền kinh tế VN sau đó sẽ yếu đi.

Một điều nữa là dường như các cơ quan hoạch định chính sách VN cũng không có được sự điều phối cần thiết. Tức là trước khi khủng hoảng không có điều phối mà sau khi khủng hoảng thì bộ tài chính với ngân hàng nhà nước vẫn mỗi ông một phách. Tính điều phối không có thì không phối hợp được chính sách.

HAI NGHỊCH LÝ

Quy mô gói kích cầu VN thuộc vào hàng lớn nhất ở khu vực xét theo tỉ lệ. Có một số người nói cuối đường hầm của khủng hoảng này, thay vì ánh sáng mà chờ đợi chúng ta lại là bong bóng của thị trường?

Quan điểm của tôi từ nay đến cuối năm chưa có dấu hiệu thực sự lo ngại về lạm phát. Bong bóng về chứng khoán có thể có, bong bóng về bất động sản có thể có nhưng về lạm phát thì chắc là không. Lý do là đến thời điểm này lạm phát ở VN tính theo tháng đang ở mức thấp nhất, khoảng 2%. Trung bình 8 tháng đầu năm lạm phát chỉ là 8,3%/năm. Tôi dự đoán lạm phát năm nay rơi vào khoảng 7-8% và đây là con số không đáng lo. Vấn đề là từ 2010 trở đi thì sẽ như thế nào.

Gói kích thích nếu đi vào các hoạt động hiệu quả sẽ tạo ra được chuyển biến nhưng hiện đang có lo ngại các gói kích thích của chúng ta chỉ đang dồn vào các thị trường ngắn hạn, dễ gây bong bóng như địa ốc, chứng khoán…

Có sự tương quan rất lớn giữa khối lượng tăng trưởng tín dụng và quy mô giao dịch trên thị trường chứng khoán nếu nhìn vào đồ thị. Sự tương quan đó làm người ta nghi vấn đồng tiền thay vì đưa vào sản xuất kinh doanh lại đang được đổ vào thị trường chứng khoán và bất động sản. Sự tương quan đó đặt ra câu hỏi mà cần có sự trả lời từ các cơ quan làm chính sách.

Các cơ quan làm chính sách đến giờ vẫn trả lời rằng tăng trưởng tín dụng cho chứng khoán chỉ vào khoảng hơn 10% còn cho bất động sản là xấp xỉ 1%. Nhưng đó chỉ là con số thống kê chính thức. Khi vay người ta nói là vì mục đích A rồi sử dụng vì mục đích B thì về cơ bản ngân hàng không kiểm soát được. Một điều chúng ta thấy rõ là khi tăng trưởng tín dụng thì thị trường chứng khoán tăng và VnIndex tăng theo – điều khiến mọi người phải nghi ngờ.

Một nghịch lý của VN ở thời điểm này là trong khi các yếu tố nền tảng của nền kinh tế hoặc đi xuống hoặc không có cải thiện đáng kể thì các thị trường có tính đầu cơ như chứng khoán, địa ốc lại đi lên. Nghịch lý thứ hai là trong khi các doanh nghiệp thua lỗ nhiều, gặp rất nhiều khó khăn thì ngân hàng – đối tượng đồng hành, hỗ trợ doanh nghiệp – lại lãi to. Ở các nước khác có thể thấy ngân hàng là các doanh nghiệp đổ đầu tiên nhưng VN thì ngân hàng lãi to trong 6 tháng đầu năm và họ coi đó là sự thành công. Đúng là thành công cho từng ngân hàng nhưng cho nền kinh tế thì chưa chắc.

Việc gói kích thích đi sai địa chỉ như vậy thì tác dụng lâu dài với nền kinh tế sẽ ra sao?

Thứ nhất có thể gây ra tình trạng lạm phát. Xấu nữa là trở lại tình trạng bong bóng, bất ổn vĩ mô của 2008. Cở bản nhất là phân phối nguồn lực kém hiệu quả. Nguồn lực chúng ta có hạn, muốn tăng trưởng nhanh thì nguồn lực có hạn đó phải được dùng một cách có hiệu quả nhất. Cụ thể là phải đưa vào các lĩnh vực mà tạo ra năng suất lao động và tạo ra giá trị gia tăng. Nếu mà chỉ đổ vào chứng khoán, bất động sản là những ngành có tính đầu cơ thì sẽ không tạo ra giá trị gia tăng cho nền kinh tế và cũng không tạo điều kiện để tăng năng suất.

Phân bổ nguồn lực méo mó như thế chắc chắn sẽ dẫn tới bong bóng, các hoạt động sản xuất kinh doanh không có lãi. Nếu nền kinh tế có nhiều cơ hội sinh lời bằng các hoạt động đầu cơ lớn như vậy thì sẽ triệt tiêu hoặc làm giảm bớt một cách đáng kể năng lực và tinh thần kinh doanh.

GÓI KÍCH CẦU NHỎ, HIỆU QUẢ

Trong một số cuộc hội thảo gần đây anh có nói về chuyện VN nên ngừng các gói kích thích trong khi các chuyên gia thế giới gần đây đều kêu gọi các nước nên duy trì các gói này.

Tôi cho rằng trước khi có gói kích cầu lần 2, nhà nước cần đánh giá lại một cách hết sức khách quan tác động của gói kích cầu lần thứ nhất, đặc biệt đối với tiêu dùng, đầu tư, tăng trưởng, thị trường chứng khoán, thị trường bất động sản, công ăn việc làm. Đó là những tiêu thức rất cơ bản để đánh giá hiệu quả gói kích thích.

Số liệu đầy đủ nhất có đến giờ là sau 6 tháng đầu năm của tổng cục thống kê. Theo ông Bùi Bá Cường, Vụ trưởng vụ thống kê tài khoản quốc gia của tổng cục thống kê, thì 6 tháng đầu năm tiêu dùng giảm 10%. Đồng thời, tồn kho tăng tới 34% trong 6 tháng đầu năm. Số liệu thứ hai chúng ta có là 6 tháng đầu năm nhập siêu giảm 86%, riêng chuyện này cũng đủ để giúp GDP tăng trưởng tới hơn 10% rồi. Như vậy đóng góp lớn nhất cho tăng trưởng không phải đến từ kích cầu mà đến từ nhập siêu giảm và tồn kho tăng. Với những con số được công bố này, chúng ta phải đặt câu hỏi là tác động thực sự của kích cầu nằm ở đâu…

Về mặt nguyên lý thì tôi cho rằng gói kích cầu thứ 2 nên có quy mô nhỏ hơn, thời hạn ngắn hơn và phải hiệu quả hơn. Quy mô kích thích nhỏ hơn một mặt để tránh kích hoạt lạm phát, mặt khác để không làm tình trạng thâm hụt ngân sách trở nên trầm trọng hơn. Gói kích cầu nên ngắn hạn để giúp sự điều chỉnh chính sách được linh hoạt, nhất là khi cần chấm dứt kích cầu khi nền kinh tế Việt Nam hồi phục theo đà phục hồi chung của thế giới. Thứ ba, tính định hướng phải rõ ràng. Cần phải làm chặt để tiền kích cầu không chảy vào các dự án hoành tráng của các tập đoàn nhà nước, vào chứng khoán, bất động sản để tránh lặp lại kịch bản của năm 2007 – 2008 với lạm phát cao và bong bóng chứng khoán, bất động sản.

Ông Tự Anh cho rằng nên tiến hành các gói kích cầu nhỏ, ngắn hạn

Ông Tự Anh cho rằng nên tiến hành các gói kích cầu nhỏ, ngắn hạn

Giai đoạn khủng hoảng là thời điểm cho cải cách và sửa đổi nhưng có vẻ giai đoạn khủng hoảng vừa qua chúng ta chưa làm được nhiều việc này?

Trong giai đoạn vừa qua về cơ bản chính phủ bị bận tâm và dồn hết thời gian vào giải quyết các vấn đề sự vụ, phản ứng có tính tức thời chứ ít khi có điều kiện ngồi một cách bình tĩnh và nghĩ xem nên tiến hành cải cách cơ cấu như thế nào. Tôi cho rằng vấn đề cơ cấu quan trọng nhất với VN chính là các tập đoàn nhà nước kém hiệu quả, nhưng lại được coi là xương sống nền kinh tế trong khi các doanh nghiệp tư nhân hiệu quả hơn và có sức chống chịu đối với khủng hoảng lớn hơn thì không những không được ưu đãi mà còn chịu lép vế so với khu vực nhà nước và FDI. Điều đó có nghĩa doanh nghiệp tư nhân của VN sẽ khó có thể lớn và có năng lực cạnh tranh quốc tế.

Tôi vẫn thường lấy ví dụ Viettel và VNPT để minh họa cho tác dụng của cạnh tranh. Cũng là hai doanh nghiệp nhà nước nhưng khi cho cạnh tranh thì vùng phủ sóng trở nên rộng hơn, chất lượng tốt hơn, giá cả rẻ hơn. Vấn đề không chỉ là chuyện sở hữu nhà nước mà là phải có cạnh tranh với nhau. Ví dụ ngược lại là trường hợp EVN và PetroVietnam. Cả hai tập đoàn này đều sản xuất điện nhưng điện VN vẫn phập phù, giá điện không thấp. Nguyên nhân cơ bản là EVN chiếm thế độc quyền, có quyền mua hay không mua điện của PetroVietnam và mua với giá nào, bao nhiêu và lúc nào. Hai ví dụ đó cho thấy sự tương phản đồng thời cho thấy sở hữu là vấn đề quan trọng nhưng cạnh tranh có khi còn quan trọng hơn.

Giờ chúng ta sắp có tập đoàn bất động sản và tập đoàn dệt may là những lĩnh vực mà tư nhân có thể làm rất tốt. Theo tôi, nhà nước chỉ cần can thiệp vào hai lĩnh vực mà tư nhân không muốn làm hay muốn làm mà không làm được. Dệt may là lĩnh vực tư nhân có thể làm tốt, hiện nay chiếm tới 70% thị phần, tức là lớn hơn nhiều so với các doanh nghiệp nhà nước. Từ bài học nhãn tiền của Fannie Mae và Freddie Mac trong cơn khủng hoảng nợ dưới chuẩn vừa qua, tôi không hiểu tại sao Việt Nam vẫn muốn có tập đoàn bất động sản nhà nước.

Nhìn lại bảng xếp hạng WEF, anh có thấy ý nghĩa cảnh báo gì?

Cảnh báo lớn nhất của báo cáo năm nay cho Việt Nam là muốn nâng cao năng lực cạnh tranh, duy trì tăng trưởng bền vững thì một trong những điều kiện tiền đề là ổn định vĩ mô. Chẳng hạn như là nếu cứ tăng trưởng đều đều 7-8%/năm mà duy trì được trong vài chục năm như một số nền kinh tế thành công ở Đông Á như Nhật, Đài Loan, Hàn Quốc thì Việt Nam sẽ thoát được bẫy thu nhập thấp. Hay cũng có thể nhìn vào kinh nghiệm của Thụy Điển, tăng trưởng bình quân chỉ khoảng 2%/năm nhưng họ duy trì được trong 100 năm liền, từ 1870 đến 1970. Nhờ vậy mà họ từ một nước nghèo nhất châu Âu trở thành một nước giàu nhất châu Âu. Vấn đề của mình là có lúc muốn đẩy nền kinh tế đi quá nhanh một cách duy ý chí, tăng trưởng một cách cưỡng bức. Đầu tư liên tục tăng, chiếm tới 42-43%/năm thì giống như thúc một cỗ xe xộc xệch đi với tốc độ quá nhanh, trên thực tế đã gây ra một số đổ vỡ. Các mục tiêu phát triển nên là các mục tiêu dài hạn và có tính bền vững chứ không thể là ngắn hạn và duy ý chí.

Để làm được điều này cần phải có sự bình ổn về vĩ mô và tháo gỡ những nút thắt cổ chai của nền kinh tế. Đó mới là kế sâu rễ bền gốc chứ không phải là đầu tư thật nhiều cho các bộ phận kém hiệu quả nhằm đạt mục tiêu tăng trưởng cao một cách duy ý chí.

Written by tristhefall

September 20, 2009 at 12:49 am

Posted in Common

Tagged with ,

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: