Tristhefall’s Blog

Just another WordPress.com weblog

Lehman Brothers và bài học về quản lý

leave a comment »

Cơn địa chấn của vụ sụp đổ tập đoàn tài chính Lehman Brothers ngày 15-9 một năm trước là nguyên nhân trực tiếp dẫn tới sự hoảng loạn của toàn bộ thị trường tài chính và các cuộc khủng hoảng tiếp sau đó.

Với giá trị 618 tỉ USD, Lehman Brothers không chỉ là vụ phá sản lớn nhất trong lịch sử nước Mỹ. Các cơn địa chấn sau khi Lehman sụp đổ đã đẩy thế giới vào cuộc khủng hoảng trầm trọng nhất kể từ thời kì Đại khủng hoảng 1929-1933. Hàng nghìn tỉ USD đã bị quét khỏi thị trường chứng khoán, các hoạt động cho vay hầu như đóng băng, vô số tập đoàn và cửa hàng phải đóng cửa kéo theo hàng triệu người mất việc làm. Từ châu Âu tới châu Á, một loạt quốc gia như Iceland, Pakistan, Hungary, Ukraine và một số nước Baltic và Đông Âu đã tiến sát tới ngưỡng nguy cơ phá sản. Tại Mỹ, và các nước phương Tây, lý thuyết về thị trường tự do của David Ricardo và “bàn tay vô hình” của Adam Smith bị đặt dấu chấm hỏi. Trung Quốc, Nga thì đề xuất thay thế đồng USD trong thanh toán và dự trữ quốc tế. Câu hỏi về mô hình lại được đặt ra và một số không nhỏ đã lên tiếng cho rằng mô hình XHCN là thích hợp hơn cho phát triển.

Tại Mỹ, chỉ vài ngày sau 15-9, FED đã phải chi 85 tỉ USD để cứu AIG, Merrill Lynch cũng nhanh chóng được Bank of America mua lại, hai biểu tượng tài chính khác là Goldman Sachs và Morgan Stanley chuyển đổi thành các ngân hàng mô hình tổng hợp (bank holding company) trong khi chính phủ Mỹ phải cầu cứu quốc hội chi gấp 700 tỉ USD để cứu hệ thống tài chính phố Wall. Cho đến cuối năm, bộ tài chính Mỹ và cục dự trữ FED đã cam kết khoảng 3.600 tỉ USD để cứu hệ thống tài chính – con số tương đương khoảng 500 lần số tiền đảm bảo cứu Lehman ban đầu. Giống như nhiều tập đoàn tài chính khác, vấn đề của Lehman là đã vay mượn ngắn hạn quá nhiều để cung cấp tài chính cho các dự án nhiều rủi ro như địa ốc, chứng khoán dựa trên thế chấp.

Kinh tế suy giảm

Theo tính toán của BBC, chính phủ các nước đã chi khoảng 10.800 tỉ USD cho các gói cứu trợ và kích thích nền kinh tế. Ở các nước giàu, trung bình mỗi người dân mất 10.000 USD cho các gói cứu trợ tài chính này. Nước Anh đã chi tới 94% GDP cho gói cứu trợ trong khi gói cứu trợ của Mỹ cũng tương đương với 25% GDP. Trung Quốc và các nước đang phát triển đã chi 1.600 tỉ USD cho các gói kích thích kinh tế.

Nền kinh tế thế giới dự kiến giảm 2,3% trong năm nay (tương đương với giảm khoảng 1.000 tỉ USD), và đặc biệt ảnh hưởng là số lượng hàng triệu người bị mất việc. Nếu tính cả con số tăng trưởng trung bình hàng năm 2% của thế giới, tổn thất của suy thoái sẽ là xấp xỉ 2.000 tỉ USD. Ở Mỹ, nợ chính phủ dự kiến sẽ tăng lên gấp đôi tới 10.000 tỉ USD trong vòng 5 năm tới.

Theo GS Roy Smith của trường kinh doanh Stern, ĐH New York, thì ước tính đến cuối năm 2007, giá trị vốn hóa của toàn bộ chứng khoán và trái phiếu trên thế giới đạt 144.000 tỉ USD (so với mức 27.000 tỉ USD của năm 1990, tương đương với mức tăng trưởng 11%/năm), tương đương 10 lần GDP của nước Mỹ. Đến cuối năm 2008, tổng giá trị vốn hóa đã giảm 25.000 tỉ USD xuống còn khoảng 119.000 tỉ USD sau vụ sụp đổ của Lehman.

Các quan chức cầm quyền khi đó, từ chính quyền Bush cho tới cục dự trữ FED đều cho rằng họ không có giải pháp nào ngoài việc để Lehman sụp đổ. Lý do đưa ra là thiếu cơ chế pháp lý để can thiệp và nếu không Lehman không đổ, họ sẽ không bao giờ thuyết phục được Quốc hội chi 700 tỉ USD để cứu hệ thống tài chính sau đó. Thực tế, các chuyên gia đều cho rằng cứu Lehman sẽ chỉ tạm ngưng nỗi sợ hãi một cách tạm thời và có thể làm cuộc khủng hoảng tồi tệ thêm.

Còn đó những rủi ro

Một năm sau khủng hoảng, thị trường chứng khoán đã bắt đầu có dấu hiệu hồi phục. Bloomberg hôm 15-9 nói thị trường chứng khoán châu Á đã phục hồi được những mất mát kể từ sau vụ sụp đổ của Lehman. Những người lạc quan nói thị trường đang lên và nền kinh tế đang hồi phục. Các tổ chức như OECD, World Bank đều đưa ra những dự báo tăng trưởng mới cho năm nay và năm tới theo suy nghĩ chúng ta đã qua khủng hoảng.

Ở Mỹ, dù tỉ lệ người thất nghiệp vẫn cao nhưng số người mất việc mới đã dần giảm xuống. Năm ngân hàng lớn nhất tại đây – Goldman, JPMorgan, Wells Fargo, Citigroup và Bank of America – công bố lại quỹ hai là 13 tỉ USD, nhiều gấp đôi tiền lãi quý 2-2008 và tương đương khoảng 2/3 lợi nhuận hồi quý 2-2007 khi nền kinh tế còn đang rất mạnh. Nhưng thực tế thế giới đã phục hồi thật sự chưa?

Nomi Prins, giám đốc điều hành tại Goldman Sachs cho đến tận năm 2002 mới đây viết “Không có gì thay đổi cả ngoại trừ thực tế chúng ta đang có những tập đoàn lớn hơn, mạnh hơn, dựa dẫm nhiều vào nguồn vốn của chính phủ và khó có thể kiểm soát hơn. Chúng ta đang ở môi trường kém ổn định đi.” BBC trích lời một chuyên gia nói “khi cuộc khủng hoảng sắp tới xuất hiện, những gì diễn ra trong hai năm vừa qua chỉ giống như màn ‘làm nóng.’”

Heiner Flassbeck, kinh tế trưởng của UNCTAD nói với Guardian “tất cả tăng trưởng ở thị trường gần đây được cho là dấu hiệu của hồi phục kinh tế – thực tế đó chỉ là thứ bong bóng khác thôi. Thị trường đang phản ánh sự phục hồi không có thực. Sụt giảm thu nhập là mối nguy lớn hơn hiện hữu ở mọi nơi mà không ai để ý tới.”

“Các ngân hàng được tiền thuế của người dân cứu trợ và giờ đang trở về với cách thức đầu cơ kiểu casino từng dẫn chúng ta tới khủng hoảng. Giờ cần tập trung đầu tư vào những ngành tạo giá trị thật sự…Thị trường tài chính ở nhiều nước phát triển giờ giống những sòng bạc lớn luôn luôn thắng. Khi họ thua lỗ thì sẽ lại được cứu trợ còn mọi người thì thua thiệt.”

Bản báo cáo mới đây nhất về phát triển của UNCTAD chỉ ra rằng thị trường nguyên liệu – đang tăng mạnh trong thời gian gần đây – không phản ánh tăng trưởng thực sự của sản xuất hay thương mại mà thực ra chỉ là do dòng tiền đầu cơ đổ mạnh vào. Ngoài ra, vấn đề suy giảm thu nhập, lương giảm mạnh đang diễn ra ở mọi nơi mới là mối lo thật sự thì lại đang bị các nhà hoạch định chính sách bỏ lơ. Báo cáo nói “các nhà hoạch định chính sách cần cảnh giác nếu một ngành thường xuyên nhắm tới lợi nhuận hai con số ở nền kinh tế có mức tăng trưởng thấp hơn nhiều” vì thị trường tài chính vốn phức tạp và mạo hiểm hơn nhiều so với thị trường hàng hóa. “Cần có sự thận trọng và kiểm soát lớn hơn nữa. Cần thêm quy định và luật lệ chứ không phải tháo bỏ như trước kia. Đáng ngạc nhiên khi G20 lại quan tâm quá ít tới những cải cách cần thiết của hệ thống tài chính.”

Chậm trong cải tổ

Phố Wall đang hồi phục nhưng đồng thời họ cũng đang trở lại với cách thức từng dẫn họ vào cuộc khủng hoảng tồi tệ vừa rồi. Hầu như chưa có thay đổi đáng kể gì trong quy định của chính quyền liên bang Mỹ để kiểm soát các ngân hàng này. Các cải cách nhằm giám sát hệ thống ngân hàng đã bị các nhóm vận động hành lang từ các tập đoàn tài chính làm vô hiệu quá. Một trong những đề xuất mạnh dạn nhất – thiết lập một cơ quan quản lý các sản phẩm tài chính tiêu dùng như thế chấp, thẻ tín dụng – đã gặp phải sự chống trả quyết liệt của thế giới tài chính và các nhà vận động hành lang của họ.

Theo Bloomberg, thay vì chia nhỏ hay hạn chế sự mở rộng của các tập đoàn lớn như Bank of America, Citigroup, thì chính phủ Mỹ lại bơm thêm cho họ hàng tỉ USD và cam kết bảo đảm các khoản vay giúp họ phình to thêm hơn bao giờ hết. Bốn ngân hàng Mỹ – Bank of America, JPMorgan Chase, Citigroup và Wells Fargo – giờ đã nắm tới 46% tài sản các ngân hàng do FDIC bảo lãnh (tăng gần 10% so với mức 37,7% một năm trước).

Simon Johnson, cựu kinh tế trưởng của quỹ tiền tệ IMF nói “Chúng ta lại đang thấy kiểu hành vi y hệt vậy từ các ngân hàng và điều này có thể dẫn tới những cuộc khủng hoảng lớn và kinh khủng tương tự…các ngân hàng lớn giờ mạnh hơn trước nhiều. Thị phần của họ đã tăng và họ có ảnh hưởng lớn ở Washington.”

Theo AP, cách phản ứng của chính phủ Mỹ khi gặp khủng hoảng: bao nhiêu cũng chi để cứu hệ thống tài chính, có thể tạo tiền lệ xấu khiến nhiều ngân hàng tiếp tục cách thức làm ăn liều lĩnh của mình. Lawrence Summers, giám đốc hội đồng kinh tế Nhà Trắng, thừa nhận cải cách gấp hệ thống tài chính là cần thiết vì “Không thể dựa vào vết thương của khủng hoảng trong quá khứ để nói không có khủng hoảng trong tương lai.”

Bài học về quản lý

Lehman sụp đổ cho thấy thị trường tự do tự bản thân nó không hoàn hảo. Trả lời phỏng vấn Spiegel mới đây, Dominique Strauss-Kahn, GĐ quỹ tiền tệ quốc tế IMF, nhìn nhận “bài học chúng ta cần học là ngay kể cả nền kinh tế thị trường tự do cũng cần có quản lý, nếu không nó sẽ không vận hành được. Tất cả những ý tưởng về việc từ bỏ luật lệ…rằng thị trường có thể giải quyết mọi vấn đề, chỉ hay trên giấy tờ chứ không vận hành được trong thực tế.”

Theo cựu chủ tịch FED Alan Greenspan thì những cuộc khủng hoảng thế này sẽ còn tiếp tục xảy ra dù mô thức có thể “khác đi.” Ông cho rằng đổ vỡ sẽ xảy ra sau mỗi giai đoạn phát triển thịnh vượng dài. “Con người sau giai đoạn thịnh vượng dài luôn nghĩ rằng thịnh vượng sẽ tiếp tục,” ông giải thích. Ông nói cuộc khủng hoảng hiện tại xuất phát từ thị trường tín dụng thứ cấp nước Mỹ nhưng bất cứ nguyên nhân nào cũng có thể là chất xúc tác cho cuộc khủng hoảng.
———-

Theo Bloomberg, việc các nước tăng mạnh các gói kích thích cũng là một nguyên nhân dẫn tới tình trạng giá vàng tăng trong thời gian vừa qua. Lo ngại trước nguy cơ lạm phát và bong bóng kinh tế phục hồi trở lại khiến nhiều nhà đầu tư đổ tiền mua vàng để đề phòng rủi ro. Ngoài ra, việc đồng USD mất giá cũng là một nguyên nhân khác khiến giá vàng “nhảy múa.”

Written by tristhefall

September 15, 2009 at 7:57 pm

Posted in 1

Tagged with ,

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: