Tristhefall’s Blog

Just another WordPress.com weblog

Những lá bài đảo chiều

leave a comment »

Kinh tế và quân sự: những lá bài đảo chiều

Trong cuộc bầu cử năm 2004, vấn đề khủng bố, an ninh được coi là tâm điểm. Kinh tế dù quan trọng nhưng không có vị trí hàng đầu tuyệt đối. Giờ thì sóng đã đổi chiều…

Vào ngày đông giá rét cách đây 21 tháng (2-2007), TNS bang Illnois, Barack Hussein Obama chính thức tuyên bố chạy đua vào Nhà Trắng tại thủ phủ Springfield của bang Illinois. Thông điệp chính của ông khi đó là sẽ chấm dứt cuộc chiến tại Iraq và kêu gọi quân đội Mỹ phải rút quân từng bước bắt đầu từ tháng 3-2008. Mối quan tâm chính của cử tri Mỹ khi đó chính là vấn đề an ninh.

21 tháng trước, kinh tế Mỹ vẫn đang trong giai đoạn phát triển tốt. Bất chấp những chỉ trích đối với chính quyền Bush, kinh tế Mỹ trong giai đoạn 2001-2007 giữ được mức tăng trưởng trên 2,2%/năm – mức cao nhất trong các nước đang phá triển. Nền kinh tế Mỹ tăng 19% kể từ khi ông Bush thay ông Clinton làm chủ Nhà Trắng. Trong thời gian này Pháp chỉ tăng được 14%, Nhật 13% còn Đức và Ý chỉ có 8%. Những vết nứt khổng lồ phía dưới của hệ thống tài chính, tín dụng phố Wall vẫn chưa hề lộ diện.

Thời điểm đó, cuộc tranh cãi lớn nhất trên chính trường Mỹ là vấn đề khủng bố và an ninh. Với người dân, vấn đề quan tâm nhất là khi nào quân đội sẽ rút ra khỏi Iraq khi số lính tử mạng ở chiến trường này đã là trên 3.000 trong khi các cuộc đánh bom tự sát ở Baghdad vẫn tiếp tục diễn ra hàng ngày. Tranh cãi nóng bỏng nhất của giới trí thức, chính trị gia và báo giới là cách nào để nước Mỹ thoát khỏi vũng lầy ở Iraq – cuộc chiến đã ngốn khoảng 1.000 tỉ USD của nước Mỹ và gây tổn hại khoảng 3.000 tỉ USD cho nền kinh tế. Tất cả đều thấy ở đó là một bế tắc giữa một đằng là bỏ cuộc (nguy cơ khủng bố tiếp tục xâm chiếm lại, mất mặt, và suy yếu vị thế ở Trung Đông) và ở lại (tốn kém chi phí, bế tắc giải pháp an ninh, chính trị lâu dài). Iraq lúc này gần như rơi vào cuộc nội chiến giữa các nhóm Shiite và Sunni trong khi chính quyền Mỹ không có cách nào để đối phó. Lá bài chốt của tổng thống Mỹ khi đó là việc tăng 5 sư đoàn quân (20.000 lính) cùng việc đưa tướng David Patraeus tới làm tư lệnh quân đội Mỹ ở Iraq. Ngoài Iraq, nước Mỹ còn đau đầu với vấn đề hạt nhân của Iran và CHDCND Triều Tiên, hệ thống phòng thủ tên lửa ở châu Âu cùng nguy cơ đối đầu với nước Nga đang trỗi dậy nhờ sức mạnh dầu lửa. Tất cả những thách thức đó tạo ra lợi thế nhất định cho nghị sĩ John McCain, một cựu binh trong cuộc chiến ở VN và là người có nhiều kinh nghiệm về đối ngoại, quân sự. Các cử tri đều nhìn nhận McCain sẽ là người tổng tư lệnh thích hợp cho quân đội Mỹ khi có đến 75% tin tưởng ông sẽ đưa ra quyết định đúng khi phải bảo vệ đất nước khỏi bị lực lượng khủng bố tấn công.

Obama ngược lại là người hầu như không có chút kinh nghiệm nào trong lĩnh vực đối ngoại và quân sự. Ông mới có nhiệm kỳ đầu trong Thượng viện và kinh nghiệm chủ yếu của ông là thời gian làm các công tác xã hội và giảng dạy ở Chicago của bang Illinois. Thậm chí, một điểm rất nóng trong chính sách an ninh Mỹ là Iraq thì ông Obama cũng chưa từng tới đó bao giờ. Ngay cả trong vấn đề kinh tế, ông cũng bị đánh giá là non kinh nghiệm.

Đến tận đầu tháng 6 năm nay, khi dấu vết của cuộc khủng hoảng tín dụng đã dần lộ diện từ khoảng cách đó 8 tháng, các cuộc thăm dò của Rasmussen cho thấy TNS McCain vẫn được tin tưởng hơn TNS Obama trong cả vấn đề kinh tế và an ninh quốc gia. Tỉ lệ ủng hộ McCain trong vấn đề an ninh khi đó là 51% so với 31% của Obama. Trong vấn đề kinh tế, tỉ lệ cũng là 47-41% nghiêng về McCain. Về cuộc chiến ở Iraq là 49-37%, thuế là 44-38%. Cho đến tháng 8, McCain vẫn dẫn Obama 9 trong tổng số các vấn đề quan trọng nhất của cuộc bầu cử.

Tuy vậy, gió đã nhanh chóng đổi chiều khi cuộc khủng hoảng tín dụng có những bước ngoặt mới. Vụ sụp đổ của người khổng lồ tài chính Lehman Brothers cùng việc Merrill Lynch và một loạt thể chế tài chính khác phải chuyển đổi đã tạo ra cơn địa chấn mạnh. Chứng khoán thế giới liên tục rơi tự do quét hàng ngàn tỉ USD ra khỏi thị trường. Chấn động ở Mỹ nhanh chóng được “xuất khẩu” sang các thị trường Á-Âu và Mỹ Latin. Khủng hoảng đã ngay lập tức đẩy Iceland rơi vào tình trạng phá sản và kéo lê một số nước khác đến ngấp nghé bờ vực này.

Cơn rúng động của thị trường ngay lập tức tác động vào tâm lý của cử tri. Sự hào hứng về các ứng viên sau kỳ đại hội đảng cuối tháng 8 đầu tháng 9 nhanh chóng mất đi mà thay vào đó bằng những nỗi lo với các vấn đề kinh tế và tương lai của nước Mỹ. An ninh và khủng bố không còn là trọng tâm của cử tri nữa. Cuộc thăm dò của New York Times/CBS News vào cuối tháng 9 khi thị trường chứng khoán bắt đầu “rơi tự do” cho thấy có đến 52% nói kinh tế và việc làm là vấn đề quan trọng nhất của cuộc tranh cử lần này, tăng tới 12% so với kết quả thăm dò một tháng trước đó. Vấn đề khủng bố chỉ còn được 11% cử tri lựa chọn, tỉ lệ này với cuộc chiến tại Iraq là 10%. Và khi cuộc khủng hoảng kinh tế càng diễn biến xấu thì lợi thế lại càng xoay về hướng có lợi cho Obama. Cuộc khủng hoảng tài chính thật sự đã làm đảo lộn cuộc bầu cử tổng thống.

Tỉ lệ ủng hộ ngang ngửa 45-46% giữa hai ứng viên từ sau kì đại hội đảng đã nhanh chóng chuyển sang lợi thế cho Obama. Trên lĩnh vực kinh tế, 64% cử tri cho nói họ tin tưởng Obama sẽ đưa ra quyết định đúng so với 55% giành cho McCain. Theo điều tra mới nhất của Rasmussen thì có đến 5 trong số 6 bang tranh chấp nhất ủng hộ Obama trong các vấn đề kinh tế. Chiến dịch của TNS Obama đã vượt lên đối thủ John McCain ngay khi cuộc khủng hoảng diễn biến xấu đi.

Lý do cho chuyện này là xu hướng có từ lâu là đảng Dân chủ sẽ thắng khi động đến các vấn đề kinh tế. Có thể thấy điều này khá rõ qua chiến thắng của Franklin Delano Roosevelt vào năm 1932 (nhờ khủng hoảng) hay chiến thắng của Bill Clinton năm 1992 (kinh tế Mỹ đình trệ). Ngược lại, phe Cộng hòa thường có lợi thế trong những vấn đề an ninh như trường hợp Eisenhower năm 1952, Nixon năm 1968 rồi Ronald Reagan năm 1980. Dù cả hai đảng đều chịu ảnh hưởng trực tiếp từ những tập đoàn hùng mạnh, đảng Cộng hòa từ lâu vẫn được coi là ủng hộ các tập đoàn và giới giàu có nhiều hơn. Phe Cộng hòa cũng bị coi là thiếu quan tâm đến các chương trình
chi tiêu của chính phủ mà giúp người dân đối phó với khó khăn kinh tế như các vấn đề phúc lợi xã hội và bảo hiểm y tế. Phe Dân chủ trong khi đó được coi là quan tâm hơn đến các vấn đề phúc lợi và ủng hộ cho quyền lợi của những người dân trung lưu và thu nhập thấp. Trong chiến dịch tranh cử, TNS Obama cũng cam kết sẽ giảm thuế cho 95% người dân có thu nhập thấp (dưới 250.000 USD/năm) và miễn thuế cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ. TNS McCain trong khi đó muốn miễn thuế cho những tập đoàn lớn với lý lẽ rằng đó sẽ là cách thức kích thích nền kinh tế. Khi tranh luận về gói giải cứu tài chính diễn ra, cả hai phe cũng đưa ra những phương án cứu trợ thị trường riêng của mình. Cho đến sát những ngày tranh cử cuối cùng, kinh tế vẫn là nội dung chủ chốt các ứng viên tập trung vào.

Tình thế đổi chiều đã làm thay đổi cục diện của cuộc bầu cử. Như một chiến lược gia hàng đầu của McCain đã phải thừa nhận “Nếu cứ tiếp tục nói về cuộc khủng hoảng kinh tế, chúng tôi sẽ thua mất.”

Written by tristhefall

October 31, 2008 at 1:39 am

Posted in Common

Tagged with , ,

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: