Tristhefall’s Blog

Just another WordPress.com weblog

Người châu Á có thể nghĩ? Part I

leave a comment »

NGƯỜI CHÂU Á CÓ THỂ NGHĨ? (Part I)

Người châu Á có thể nghĩ? Đây rõ ràng là một câu hỏi nhạy cảm. Trong kỉ nguyên mà chúng ta đang sống, thử tưởng tượng sẽ có phản bác ồn ào thế nào nếu tôi tới châu Âu hay châu Phi và đặt các câu hỏi như “Người châu Âu có thể nghĩ?” hay “Người châu Phi có thể nghĩ?” Và bạn phải là người châu Á để tự đặt câu hỏi “Người châu Á có thể nghĩ?”

Do tính nhạy cảm vậy, để tôi giải thích vì sao và trong hoàn cảnh nào tôi đưa ra câu hỏi này. Trước hết, nếu chỉ được hỏi một câu rằng điều gì quyết định tương lai của trái đất, câu hỏi đó rất có thể là “Người châu Á có thể nghĩ?” Năm 1996, châu Á chiếm tới 3,5 tỉ trong tổng số 5 tỉ dân của nhân loại (tương đương với 70%). Theo các tính toán, tỉ lệ dân số châu Á sẽ tăng tới 5,7 tỉ vào năm 2050 khi dân số thế giới đạt 9,87 tỉ, trong khi dân số của Bắc Mỹ và châu Âu sẽ ở mức ổn định khoảng 374 triệu và 721 triệu. Trong vài thế kỉ gần đây, châu Âu, và sau đó là Bắc Mỹ, nắm trọng trách chính thúc đẩy văn minh nhân loại phát triển. Tới năm 2050, khi mà người châu Âu và Bắc Mỹ chỉ còn chiếm 1/10 dân số thế giới thay vì 1/6 như hiện nay, liệu có còn hợp lý khi nói toàn thể 90% nhân loại vẫn hi vọng dựa vào 1/10 này tiếp tục đảm đương trọng trách đó? Nhìn thực tế hơn. Liệu phần còn lại của thế giới có còn tiếp tục dựa vào sự gánh vác của phương Tây? Nếu dân số châu Á tăng gấp đôi trong 50 năm tới, liệu họ có đủ sức gánh vác phần trọng trách này hay không?

Thứ hai, tôi không hỏi câu này theo nghĩa hạn chế về năng lực tư duy của người châu Á. Rõ ràng, người châu Á có thể học được bảng chữ Alphabet, có thể cộng 2 và 2 thành bốn và chơi cờ. Trong suốt chiều dài lịch sử, họ đã sản sinh ra nhiều cá nhân kiệt suất nhưng lại luôn phải chịu đựng những nỗi đau khi là một tập thể. Một ví dụ kinh điển của điều này là hình ảnh cộng đồng xã hội Do Thái. Nếu tính trên đầu người, người Do Thái đóng góp vô vàn những bộ óc tuyệt vời, từ Einstein cho tới Wittgenstein, từ Disraeli tới Kissinger, nhiều hơn bất cứ xã hội nào khác. Nhưng với tư cách là một cộng đồng, họ phải chịu đựng khổ ải rất nhiều, đặc biệt là trong thế kỉ trước. Xin nhấn mạnh rằng tôi không nói về những khó nhọc của Israel hiện đại ngày nay, tôi nói về khoảng thời gian kể từ năm 135 sau CN, khi những người Do Thái bị buộc phải rời khỏi mảnh đất Palestine, cho tới năm 1948, khi đất nước Israel ra đời. Liệu một số phận tương tự có rơi xuống các xã hội châu Á, hay liệu người châu Á có thể tư duy tốt để đảm bảo một tương lai tốt đẹp hơn cho họ?

Thứ ba, khuôn khổ thời gian tôi đặt ra câu hỏi này không phải là trong một vài ngày, vài tuần, vài tháng, vài năm hay thậm chí không phải là vài thập kỉ. Tôi nhìn câu hỏi này trên khuôn thời gian hàng thế kỉ, đặc biệt khi chúng ta chỉ còn 2 năm nữa là tiến vào thiên niên kỉ mới. Có lẽ, tương lai của lịch sử thế giới trong vài thế kỉ tới sẽ phụ thuộc vào việc các xã hội châu Á nghĩ và hành động thế nào. Tôi sẽ giải thích điều này sau.

Trở lại câu hỏi “Liệu người châu Á có thể nghĩ?”. Nếu trong dạng một bài trắc nghiệm: ở đây có thể có 3 đáp án “Có”, “Không” hoặc “Có thể”. Trước khi chúng ta quyết định chọn câu trả lời nào, tôi sẽ xem xét từng trường hợp một.

KHÔNG, HỌ KHÔNG THỂ NGHĨ

Tôi sẽ bắt đầu với lý do cho câu trả lời “Không”, chỉ để bác bỏ quan điểm cho rằng câu hỏi này là ngớ ngẩn. Nếu ai đó nhìn vào lịch sử của cả ngàn năm vừa qua, mọi người có thể thấy rõ ràng người châu Á, xã hội châu Á không thể nghĩ.

Hãy cùng nhìn lại xã hội châu Á cách đây một ngàn năm, vào năm 997. Khi đó, người Trung Quốc và người Arabs (có thể nói đó là văn minh đạo Khổng và văn minh đạo Hồi) đi đầu trong cả khoa học và công nghệ, y họcvà thiên văn học. Người Arabs tiếp thụ được cả hệ thập phân và hệ thống số từ 0-9 từ Ấn Độ và họ cũng học được cách làm giấy từ người Trung Quốc. Đại học đầu tiên của thế giới được thành lập đầu tiên cách đây hơn 1.000 năm vào năm 971 tại Cairo. Trái ngược lại, châu Âu lúc đó vẫn trong thời kì được gọi là “kỉ nguyên đen tối” bắt đầu kể từ khi đế chế La Mã sụp đổ thế kỉ thứ 5. Như Will Durant nói trong cuốn The Age of Faith (Kỉ nguyên của niềm tin):

Tây Âu trong thế kỉ thứ 6 là một đống hỗn lộn của các cuộc chinh chiến, cát cứ, và xâm chiếm. Hầu hết các giá trị văn hóa truyền thống đều tồn tại im lặng và ẩn giấu trong một vài tu viện và các gia đình. Tuy thế nền tảng về sức mạnh và tâm lý của trật tự xã hội đã bị xáo trộn đến mức cần nhiều thế kỉ để phục hồi. Tình yêu đối với chữ viết, đam mê đối với nghệ thuật, sự thống nhất và tiếp nối của văn hóa, và sự trao đổi tri thức giữa các tư tưởng gia đều thất bại trước những rối loạn của chiến tranh, sự tệ hại của hệ thống giao thông, nền kinh tế nghèo nàn, sự nổi lên của các giai cấp, và sự biến mất của tiếng Latin ở phía Đông (của đế quốc La Mã trước đây) và của tiếng Hi Lạp ở phía Tây.


Trong bối cảnh lúc đấy, sẽ là điên rồ nếu dự đoán rằng Trung Quốc, Ấn Độ và văn minh Hồi giáo sẽ rơi vào vùng nước trũng của lịch sử, còn châu Âu sẽ vươn lên trở thành nền văn minh đầu tiên có thể khống chế được toàn cầu. Nhưng đương nhiên đó chính là điều thực tế đã xảy ra.

Điều đó không tự dưng xảy ra. Cho đến tận thế kỉ 16, khi mà xã hội châu Á phát triển hơn, nhưng đồng thời cũng dần đánh mất ưu thế vượt trội của mình. Khi đó họ vẫn phát triển tương đương với phương Tây và không có gì chứng tỏ rằng châu Âu sẽ nhảy vọt lên trước. Lúc này, những điểm yếu của châu Âu còn rõ ràng hơn là những thế mạnh của họ. Đó không phải là mảnh đất màu mỡ, dân số ở đó cũng không đông đúc – đây là những tiêu chí rất quan trọng khi đó, khi mà đất đai chính là cội nguồn của mọi sự thịnh vượng, cơ bắp của con người và loài thú là thước đo của sức mạnh. Châu Âu không hề có lợi thế trong các lĩnh vực như văn hóa, toán học, kĩ thuật, thám hiểm hay công nghệ vào thời điểm đó. Đó là một châu lục đầy chia rẽ, với vô số tiểu quốc nhỏ, những công quốc, những thành bang. Hơn thế,
đến cuối thế kỉ 15, châu Âu còn phải vật lộn trong cuộc chiến đẫm máu với đế chế Ottoman hùng mạnh – đang cố vươn mình ra mạnh mẽ tới cửa ngõ của thành Vienna. Quá sợ hãi với viễn cảnh này, các hoàng tử ở nước Đức xa xôi còn cách mặt trận cả trăm km đã thường xuyên phải gửi đồ cống nạp – Turkenverehrung – tới Sublime Porte (tên gọi khác của đế chế Ottoman) ở Istanbul.

Văn hóa châu Á, ngược lại, đang phát triển mạnh mẽ trong thế kỉ 15. Ví dụ Trung Quốc đã có nền văn hóa phát triển cao và đầy sức sống. Thể chế tập trung, có tôn ti, trật tự của xã hội này được điều hành bởi những nhà quý tộc đạo Khổng, những người đã tạo ra một sự cố kết và tinh tế vô song. Sức mạnh về công nghệ của Trung Quốc lúc đó cũng khó sánh bằng. Kĩ thuật in chữ nổi đã có từ thế kỉ 11 ở đây. Tiền giấy đã giúp phát triển thương mại và phát triển thị trường ở đây. Nền công nghiệp chế biến thép của Trung Quốc, cộng với việc phát minh ra thuốc súng giúp nước này có sức mạnh quân sự to lớn.

Tuy vậy, điều đáng ngạc nhiên là chính châu Âu mới là châu lục vượt lên trước. Một điều gì đó gần như là phép lạ đã xảy đến với tư duy của người châu Âu, và sau đó là hết làn sóng này đến làn sóng khác các phát triển và tiến bộ của văn minh, từ thời kì Phục hưng cho đến kỉ Khai sáng, từ cuộc cách mạng khoa học cho đến cuộc cách mạng công nghiệp. Trong khi xã hội châu Á dần suy thoái vào sự lạc hậu và cứng nhắc, xã hội châu Âu lại phát triển vượt bậc với những mô hình mới về tổ chức kinh tế, kĩ thuật quân sự, sự đa nguyên về chính trị trong châu lục như một tổng thể (nếu không phải giữa từng quốc gia đơn lẻ), và sự xuất hiện giải phóng tự do của trí thức, đặc biệt là ở Italy, Anh, và Hà Lan, điều đã tạo ra cái có thể gọi là “sự thần kì Châu Âu” – nếu lúc đó ta có một nền văn minh siêu việt hơn để quan sát và đánh giá sự phát triển này. Vì yếu tố phê phán không tồn tại trong các xã hội châu Á lúc bấy giờ nên họ dường như cứ đứng yên mãi trong khi Châu Âu bước lên trung tâm của sân khấu thế giới. Quá trình thực dân hóa, bắt đầu từ thế kỉ 16, rồi cuộc cách mạng công nghiệp vào thế kỉ 19, đã tạo nền móng và củng cố vị trí thống trị cho châu Âu.

Đối với tôi, một người Singapore, đất nước chỉ có 3 triệu dân, tôi luôn ngạc nhiên khi một quốc gia nhỏ như Bồ Đào Nha, cũng chỉ với dân số vài triệu người, lại có thể gặm nhấm các vùng lãnh thổ như Goa, Macau và Malacca từ các nền văn minh lớn hơn, cổ kính hơn. Đó quả là một chiến tích đáng kinh ngạc. Điều đáng kinh ngạc hơn là việc này được tiến hành ngay từ những năm 1500. Tiếp sau người Bồ Đào Nha là người Tây Ban Nha, Hà Lan, Pháp rồi đến Anh. Trong suốt thời kì này, trong khoảng hơn 3 thế kỉ, xã hội châu Á chỉ đơn giản quy phục và cho phép mình bị vượt qua, bị ép buộc trở thành thuộc địa bởi những xã hội bé nhỏ hơn mình rất nhiều.

Điều đau đớn nhất đối với châu Á không phải là những điều về thể xác đó mà là cuộc thực dân hóa về tinh thần. Rất nhiều người châu Á (tôi e rằng, trong đó có rất nhiều tổ tiên của tôi từ Nam Á) bắt đầu tin rằng người châu Á là giống người hạ cấp hơn những người châu Âu. Chỉ có điều này mới giải thích tại sao chỉ có vài ngàn quân Anh có thể kiểm soát được hàng trăm triệu người ở khu vực Nam Á. Nếu được phép đưa ra quan điểm, tôi có thể nói rằng sự thực dân hóa về tư tưởng này vẫn chưa được hoàn toàn xóa bỏ ở châu Á, và rất nhiều xã hội ở châu Á vẫn đang vật lộn để thoát ra khỏi tư duy này.

Đó vẫn là điều đáng ngạc nhiên đến tận bây giờ, khi mà chúng ta đã đứng trước ngưỡng cửa thế kỉ 21, 500 năm sau khi kẻ thực dân Bồ Đào Nha đầu tiên tới châu Á. Chỉ có một – tôi nhắc lại là chỉ có một – xã hội châu Á đã đạt tới trình độ phát triển chung của châu Âu và Bắc Mỹ hiện nay, theo mọi ý nghĩa. Tư duy của người Nhật được đánh thức đầu tiên ở châu Á cùng với cuộc cải cách của Minh Trị vào những năm 1860. Nước Nhật là nước đầu tiên được coi là phát triển, hoặc ít nhiều được coi là ngang bằng (với các nước phương Tây) vào thời điểm năm 1902, khi họ lần đầu tiên kí hiệp ước liên minh Anh – Nhật.

Nếu những bộ óc của châu Á có thể nghĩ, tại sao đến giờ chỉ có một xã hội châu Á là bắt kịp được với phương Tây? Tôi xin dừng phần phủ định của câu hỏi tại đây. Nếu muốn chọn “Không” với câu hỏi “người châu Á có thể nghĩ?” các bạn có thể làm được rồi đấy.

(Trích Can Asian think của Kisshore Mahbubani)

Written by tristhefall

July 11, 2008 at 1:52 am

Posted in Common

Tagged with

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: