Tristhefall’s Blog

Just another WordPress.com weblog

Entry for October 13, 2006

leave a comment »

Bắc Triều Tiên, hai cách tiếp cận và các lựa chọn

Trước vòng đàm phán 6 bên thứ hai, các bên vẫn chưa thể đánh giá chính xác tiềm năng hạt nhân của Bắc Triều Tiên. Giới quan sát chỉ có thể nhận định và phân tích chính sách của Bình Nhưỡng qua các hành xử mang tính hiện tượng, những suy diễn từ bản chất của chính thể và mối quan hệ quốc tế khó khăn của nước này.

Phần lớn các nhà phân tích cho rằng hiện tồn tại hai cách tiếp cận tương phản đối với chính sách của Bắc Triều Tiên. Cách tiếp cận thứ nhất có nhiều ảnh hưởng trong giới cầm quyền ở Mỹ, đặc biệt là ở các lực lượng bảo thủ có mối liên hệ trực tiếp hay gián tiếp với đảng Cộng hoà và chính quyền Washington. Cách tiếp cận này nhấn mạnh đến những mưu toan “tống tiền” của chính quyền Bình Nhưỡng, một chính thể ở trong nước đang bóp nghẹt dân chúng và ở bên ngoài đang sử dụng vấn đề hạt nhân và tên lửa chiến lược như là con tin nhằm “tống tiền” Mỹ cũng như cộng đồng quốc tế với mục tiêu cuối cùng là duy trì sự tồn tại của chính thể “gia đình trị” và quân sự hoá, một nhà nước mà nếu không có viện trợ của cộng đồng quốc tế có lẽ đã sụp đổ.

Cách tiếp cận thứ hai có ảnh hưởng lớn trên các phương tiện truyền thông phương Tây cũng như trong giới học giả nghiên cứu về quan hệ quốc tế và được phân loại theo trường phái tự do. Theo đó, kể từ khi Chiến tranh Lạnh chấm dứt, Bắc Triều Tiên bị Mỹ cô lập về mặt ngoại giao. Khác với các nước như Việt Nam, Trung Quốc, Bắc Triều Tiên đã hoàn toàn thất bại trong việc hội nhập cộng đồng quốc tế do gặp phải trở lực Mỹ. Chính trong bối cảnh đó, Bình Nhưỡng đã phải tìm đến vũ khí hạt nhân như là một con bài mặc cả nhằm có được sự trợ giúp của cộng đồng quốc tế và một bảo bối trong trường hợp Mỹ theo đuổi một kịch bản như ở Iraq mới đây.

Trên thực tế, chương trình hạt nhân của Bắc Triêu Tiên chính thức bắt đầu vào những năm 1990. Thế nhưng những thất bại trên lĩnh vực kinh tế của Bình Nhưỡng trước đó cũng là một trong những lý do thúc đẩy Kim Nhật Thành tiến hành chương trình đầy tham vọng và nguy hiểm này.

Cho đến những năm 1960, Bắc Triều Tiên vẫn đi trước Hàn Quốc trên lĩnh vực kinh tế. Thế nhưng chiều hướng này bị đảo ngược ở những năm sau đó do chi tiêu quá lớn dành cho lĩnh vực quân sự, do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng dầu lửa những năm 1970. Suy thoái kinh tế trầm trọng nhất của Bắc Triều Tiên diễn ra vào những năm 1990 khi viện trợ của Liên Xô hoàn toàn chấm dứt và quyết định của nước này buộc các bạn hàng phải thanh toán bằng tiền mặt đối với nhập khẩu dầu lửa từ Liên Xô. Cuộc khủng hoảng này đã đẩy Bắc Triều Tiên vào tình trạng thiếu năng lượng trầm trọng trong suốt một thập kỷ sau đó và cộng với sự thất bát do thiên tai, sự cộ lập với cộng đồng quốc tế, Bắc Triều Tiên dấn sâu dần vào chương trình hạt nhân mà theo Thoả thuận khung năm 1994, Bình Nhưỡng sẽ phải dừng lại. Đổi lại, Mỹ các các đồng minh cam kết cải thiện từng bước quan hệ với Bắc Triều Tiên và thông qua tổ chức KEDO sẽ viện trợ xây dựng tại Bắc Triều Tiên hai lò phản ứng hạt nhân dân dụng.

Tuy nhiên, lý giải việc Bắc Triều Tiên tiến hành chương trình hạt nhân trên cơ sở nhu cầu về năng lượng không hoàn toàn mang tính thuyết phục. Theo các chuyên gia về quốc gia Đông Bắc Á này thì hệ thống truyền tải điện hiện nay của Bắc Triều Tiên hoàn toàn không có đủ khả năng tiếp nhận sản lượng mà các lò phản ứng hạt nhân có thể sản xuất ra. Cách tiếp cận của các nhà bảo thủ với ảnh hưởng rõ rệt của chủ nghĩa hiện thực chính trị lập luận rằng Bắc Triều Tiên đang sử dụng chương trình hạt nhân để “tống tiền” thế giới. Theo cách lập luận này, nếu chính quyền Bắc Triều Tiên còn tồn tại cho đến nay là nhờ vào chính sách kiểm soát ngặt nghèo ở trong nước. Chỉ một phần rất nhỏ thân cận chính giới được hưởng lợi từ chính sách tập trung hoá kinh tế. Chính quyền sử dụng chính sách phân phối lương thực nhằm “khuyến khích” sự ủng hộ của dân chúng với chế độ. Kể từ khi Kim Nhật Thành qua đời, quân đội đã dần trở thành lực lượng nắm quyền thực sự ở Bắc Triều Tiên, gạt ra khỏi cơ cấu quyền lực mọi lực lượng khác. Vì vậy việc theo đuổi chính sách hạt nhân cũng là một điều có thể giải thích.

Về mặt đối ngoại, chính sách “mặc cả” và “tống tiền” là phương thức hành xử chủ đạo của Bắc Triều Tiên với phần còn lại của thế giới ngoại trừ nước láng giềng thân cận duy nhất là Trung Quốc. Bắc Triều Tiên mặc cả, tống tiền với Hàn Quốc nhằm có được hàng nghìn tấn gạo và thậm chí cả tiền mặt, với Nhật Bản và Mỹ nhằm đổi lại những viên trợ kinh tế và để rồi trở mặt bằng việc nối lại chương trình làm giàu uranium kể từ năm 1998.

Cách tiếp cận tự do đặt trọng tâm lên những tín hiệu cho rằng chính thể ở Bình Nhưỡng có một thiện chí thực sự nhằm chuyển đổi nền kinh tế: gửi sinh viên sang các nước học tập và nghiên cứu về kinh tế thị trường, chấp nhận sự tồn tại của các thị trường ngoài kiểm soát của nhà nước ở nông thôn và nhất là kể từ năm 2002 là việc đưa vào thực hiện chính sách tự do hoá giá cả bộ phận.

Theo các nhà nghiên cứu thuộc cách tiếp cận này, Bắc Triều Tiên bị cô lập với thế giới không phải do chính sách của họ. Sau khi chiến tranh lạnh chấm dứt, Liên Xô và Trung Quốc đã lần lượt thiết lập quan hệ ngoại giao với Hàn Quốc (năm 1991 và 1992) nhưng không có một bước đi tương tự nào từ phía Mỹ nhằm chấm dứt hoàn toàn cuộc chiến tranh bắt đầu từ 40 năm trước đó. Nếu như đạo luật cấm buôn bán với các chế độ thù nghịch (Trade with the Ennemy Act) không còn hiệu lực với Bắc Triều Tiên thì việc các chính quyền kế tiếp nhau ở Washington đưa quốc gia này vào danh sách các nước ủng hộ các hoạt động khủng bố đã đặt Bắc Triều Tiên vào tình thế bị cô lập hoàn toàn về kinh tế. Không có sự đồng ý của Mỹ, không một thể chế tài chính tiền tề nào chấp nhận cung cấp tín dụng cho Bắc Triều Tiên, các nhà đầu tư nước ngoài bị chặn lại bởi quyền đơn phương áp dụng trừng phạt của Mỹ.

Theo các nhà phân tích, Bình Nhưỡng đã lựa chọn chính sách hạt nhân bởi hai lý do chính. Thứ nhất, chính sách hạt nhân là một thách thức đủ tầm quan trọng buộc Mỹ phải đàm phán với Bắc Triều Tiên. Mục tiêu của Bắc Triều Tiên khi ký kết Thoả ước khung là từng bước cải thiện quan hệ giữa hai nước.

Thế nhưng Mỹ lại quá lừng khừng trong việc khởi công hai lò phản ứng hạt nhân dân dụng như đã hứa và Bắc Triều Tiên lại không thấy mình được rút ra khỏi danh sách các nước hỗ trợ cho các hoạt động khủng bố.

Thứ hai, những lo ngại của Bắc Triều Tiên về vấn đề an ninh cũng một phần có cơ sở bởi hai lý do: Mỹ từ chối đàm phán và ký kết một hiệp ước không xâm lược và việc đưa Bắc Triều Tiên vào cái gọi là Trục Ma quỷ. Trong bối cảnh đó, việc Bắc Triều Tiên tiếp tục tung hoả mù về sự tồn tại của vũ khí hạt nhân ở nửa bắc bán đảo Triều Tiên, một vị trí chiến lược trên vành đai Tây Thái Bình Dương là một con bài khá hiệu quả khi mà cả Mỹ các nước đồng minh, Trung Quốc và Nga đều không có lợi ích nếu xẩy ra một cuộc xung đột hạt nhân ở khu vực này. Đến đây, những tính toán của các nước trong khu vực dường như làm cho việc lựa chọn một giải pháp trở nên phức tạp.

Những sự lựa chọn

Nước quan ngại nhất đối với những diễn biến ở Bắc Triều Tiên luôn là Hàn Quốc. Trong một kịch bản xung đột vũ trang Hàn Quốc có quá nhiều để mất và quá ít để giành thắng lợi. Với khả năng tên lửa của Bắc Triều Tiên, Seoul sẽ là cái giá phải trả quá đắt cho mọi phiêu lưu quân sự dù được bắt đầu từ bất cứ bên nào. Nếu như các chính quyền dưới thời Pack Chung-hee, Chun Doo-hwan đã thành công trong chính sách “đe dọa” nhờ vào “ô hạt nhân” của Mỹ và khống chế được mọi phong trào chống đối trong nội bộ Hàn Quốc, dưới thời Rho Tae-woo và Kim Young-sam và hiện nay là Roh Moo-hyun, Seoul không còn nắm giữ hoàn toàn những lá bài này nữa. Chủ nghĩa dân tộc, phong trào thống nhất liên Triều đang ngày càng lan rộng trong giới trẻ và đồng hành với chúng là phong trào chống lại sự hiện diện quân sự của Mỹ trên lãnh thổ Hàn Quốc. Đối với Hàn Quốc, cái giá của chiến lược “ngăn chặn” và “lật đổ” sẽ quá đắt. Trong bối cảnh đó, chính sách “Ánh Dương” là lựa chọn không thể đảo ngược.

Đối với Trung Quốc, nước đã phải trả giá hơn một triệu sinh mạng cho cuộc chiên tranh ở vùng ngoại biên phía đông bắc cách đây hơn 50 năm, sự ổn định của bán đảo Triều Tiên là một yêu cầu quan trọng. Mục tiêu được tuyên bố hiện nay trong chính sách của Trung Quốc là: duy trì hoà bình và ổn định trên bán đảo Triều Tiên, phi hạt nhân hoá và giải quyết các khác biệt thông qua đàm phán hoà bình. Cho dù là đồng minh thân cận nhất của Bắc Triều Tiên, Trung Quốc luôn bày tỏ sự lo ngại chính đáng đối với chương trình hạt nhân của nước này. Chưa kể đến những nguy cơ hạt nhân khó kiểm soát nằm sát biên giới, Trung Quốc hoàn toàn có lợi ích trong việc chặn đứng một cuộc chạy đua vũ trang hạt nhân trong khu vực bắt đầu bằng Bắc Triều Tiên và sau đó là Hàn Quốc, Nhật Bản và Đài Loan, những nước hoàn toàn có thể có được khả năng hạt nhân quân sự trong thời gian ngắn. Với những gì đã diễn ra tại Iraq cách đây một năm, Trung Quốc càng có lý do để lo ngại sự hiện diện của quân chiếm đóng Mỹ ở bờ bên kia song Áp Lục.

Thế nhưng, nền ngoại giao Trung Quốc cũng đang đối mặt với những nghịch lý. Một mặt Trung Quốc mong muốn có ổn định ở các khu vực ngoại biên nhưng mặt khác, chính sách truyền thống của họ lại mong muốn rằng vùng ngoại biên đó không quá mạnh để vượt khỏi tầm ảnh hưởng của họ. Một sự chia cắt lâu dài và những bất đồng giữa hai miền Triều Tiên sẽ luôn cần đến sự trung gian hoà giải của Bắc Kinh. Cho dù mối liên hệ chặt chẽ giữa Bắc Kinh và Bình Nhưỡng, các nhà phân tích không tin rằng Bắc Kinh có thể tác động nhiều lên chính sách của Bắc Triều Tiên, một quốc gia có truyền thống theo đuổi chính sách cân bằng giữa các nước lớn. Hơn nữa, dù tuyên bố công khai mong muốn phi hạt nhân hoá, hoà bình và ổn định trên bán đảo Triều Tiên, mối quan ngại hàng đầu của Trung Quốc là sự sụp đổ của chính quyền Bình Nhưỡng và kéo theo nó là làn sóng người tị nạn, bất ổn tràn qua song Áp Lục. Chính vì vậy, Trung Quốc lựa chọn chiến lược “dính líu” nhằm ngăn chặn mọi biến động bất lợi cho chính lợi ích an ninh của Trung Quốc đồng thời áp đặt sự kiểm soát của mình nên mọi tiến trình hoà bình và thống nhất của bán đảo Triều Tiên.

Những tính toán lợi ích của Nhật Bản cũng có nhiều điểm tương đồng với tính toán của Trung Quốc. Nhật Bản là nước đô hộ gần đây nhất trên bán đảo Triều Tiên. Chủ nghĩa dân tộc Triều Tiên hiện đại được xây dựng một phần trên nền tảng tư tưởng chống xâm lược Nhật Bản. Trong bối cảnh đó, bán đảo Triều Tiên thống nhất và hùng mạnh chưa chắc đã làm yên lòng người Nhật khi họ vẫn coi bán đảo này như là “cây gươm đang chĩa vào trái tim Nhật Bản”. Nhưng cách tiếp cận của Nhật không hoàn toàn tương đồng với Trung Quốc vì mối quan hệ của Nhật với cả hai miền Triều Tiên không đạt đến mức như giữa Trung Quốc và Bắc Triều Tiên. Nhật Bản khó có được vị thế chủ động trong mọi tiến trình trên bán đảo này mà luôn phải đứng sau các nước khác. Nhật Bản cũng không đồng tình với đường lối cứng rắn của Mỹ vì đã một lần người Nhật phải thót tim khi tên lửa tầm xa của Bắc Triều Tiên bay ngang bầu trời Nhật Bản. Một tiếp cận đa phương cho vấn đề Bắc Triều Tiên luôn là ưu tiên hàng đầu trong chính sách Triều tiên của các chính phủ ở Tokyo.

Xa hơn và ít ảnh hưởng hơn là Matxcơva. Không trực tiếp chịu ảnh hưởng những đột biến có thể diễn ra ở bán đảo Triều Tiên, người Nga mong muốn dính líu vào mọi tiến trình ở đây như là một bước tái triển khai ảnh hưởng đã mất ở địa đầu Thái Bình Dương của cường quốc Âu-Á duy nhất. Dù phê phán chính sách của Mỹ, nhưng người Nga cũng không ảo tưởng vào khả năng trung gian đàm phán như người Trung Quốc có thể làm. Họ biết là họ sẽ có mặt và phải có mặt trong mọi đàm phán ở nơi mà họ buộc phải đi qua để có thể một ngày trở lại với tư cách cường quốc Thái Bình Dương.

Trong bối cảnh đó, chính sách cứng rắn của Mỹ ảnh hưởng bởi cách tiếp cận bảo thủ đang ngày càng cho thấy tính không hiệu quả. Bắc Triều Tiên vẫn tiếp tục sử dụng vấn đề hạt nhân làm con bài mặc cả trong khi Nhà Trắng khó lòng theo đuổi mục tiêu “ngăn chặn” đơn thuần hoặc “lật đổ”. Một chiến lược “dính líu” có tính đến lợi ích an ninh của Bắc Triều Tiên sẽ có thể đưa đến một giải pháp. Nhưng trở ngại lớn nhất hiện nay không phải là từ phía các bên tham gia đàm phán khác mà chính từ phía Bắc Triều Tiên, nước duy nhất biết mình sở hữu những gì và sẵn sàng đi những bước đi nào

(Vũ Đoàn Kết)

Written by tristhefall

October 13, 2006 at 6:49 am

Posted in Common

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: