
just deactivated my FB account. Trying to distance myself from all the troubles and concerns for now. In the end, axiety or worry is not what you’re seeking for in this life.

just deactivated my FB account. Trying to distance myself from all the troubles and concerns for now. In the end, axiety or worry is not what you’re seeking for in this life.
Tâm hồn anh dằn vặt cuộc đời anh
Thắp một ngọn đèn hồng như ánh lửa
Ðêm sâu quá đêm nào biết ngủ
Chỉ con người đến ngủ giữa đêm thôi
Mà có ngủ đâu , người ta đợi mặt trời
Ðợi lâu quá nên để cơn mơ chờ đợi vậy
Trong cơn mơ là cuộc đời thức dậy
Con ong vàng bé nhỏ đến tìm em
Con ong xanh có đôi mắt đen
Con ong trắng bơ vơ trong tổ vắng
Con ong đỏ là con ong trong thơ thẩn
Bay đi tìm hương nhuỵ mất từ lâu
Ðã chết rồi ơi chú ong nâu
Ðể hoa rụng mùa thu thương nhớ bạn
Anh là con ong bay giữa trời lận đận
Trời đêm dài chẳng có một ngôi sao
Em ở đâu , em ngủ ở phương nào
Môi em thở những điều gì khe khẽ ?
Em , em gần hay em xa thế nhỉ
Ðến bất ngờ loá nắng giữa lòng đau
Anh có hẹn đâu , anh chả nói câu nào
Anh chỉ buồn thôi , em chỉ buồn thôi ai biết ?
Tóc em dài như một ngày mỏi mệt
Em đợi chi anh , em cần chi anh ?
Anh đợi chờ em , không đợi sao đành ?
Ðêm như biển không bờ bóng tối rất thẳm sâu
Ðời cũng giống như biển kia anh lại giống con tàu
Tàu anh đi đi hoài trên biển vắng
Mong tìm được một bóng hình bè bạn
Ðến bây giờ anh gặp được tàu em
Anh mở gió tâm hồn cho buồm thắm kéo lên
Ai ngờ tàu em lại là tàu cướp biển
Em cướp hết cuộc đời anh , em lấy hết
Trói anh vào cột buồm của tình yêu
Bão táp nổi lên , chớp giật, tàu xiêu
Em đứng đó hãi hùng ngơ ngác
Anh cũng thương em suốt đời trên sóng nước
Cướp được tàu anh tưởng có ngọc vàng
Ngờ đâu chỉ là ván nát sàn hoang
Còn trơ lại hồn thơ tai ác quá
Nhưng thôi em ơi đấy chỉ là lời ru trong giấc ngủ
Anh thương em đây anh lại êm đềm
Làm con ong vàng đến ngủ giữa tóc em
Con ong xanh có đôi mắt đen
Con ong trắng là con ong thương nhớ
Con ong đỏ chính niềm tin ấp ủ
Còn hạnh phúc cuối cùng là khúc hát chú ong nâu
(Lưu Quang Vũ)
Thơ Thảo Phương
Dường như ai đi ngang cửa
Hay là ngọn gió mải chơi
Chút nắng vàng thu se nhẹ
Chiều nay -
Cũng bỏ ta rồi
Làm sao về được mùa đông
Chiều thu – cây cầu
Đã gãy…
Lá vàng chìm bến thời gian
Đàn cá – im lìm – không quẫy
Ừ, thôi…
Mình ra khép cửa -
Vờ như mùa đông đang về
Ngài Gia Bảo,
Khi tới đây, ngài sẽ biết rằng người Ấn Độ chúng tôi sáng tạo ra mọi thứ từ Internet, món trứng luộc cho tới tàu vũ trụ trước khi bị người Anh lấy trộm tất cả.
Nhưng những thứ đó thật ra vớ vẩn. Thứ vĩ đại nhất đất nước này sáng tạo ra trong 10.000 năm lịch sử của nó chính là Chiếc lồng Gà.
Xin ngài tới Delhi cổ, ngay phía sau ngôi đền Jama Masjid, và nhìn cách họ giữ gà ở chợ. Hàng trăm gà mái xanh xao và gà trống sặc sỡ được nhét vào mấy chiếc lồng mắt cáo, nhồi nhét chặt như giun trong bao tử. Chúng cắn mổ, ỉa hết lên nhau, xô đẩy để giành lấy khoảng không để thở. Cả cái lồng là một mùi hôi thối kinh hoàng – mùa hôi của sự sợ hãi, của những miếng thịt đầy lông lá. Trên cùng chiếc lồng là tấm ván gỗ với tay mổ gà trẻ ngồi đó tươi cười. Tay này hươ hươ những tấm thịt và nội tạng của những con gà vừa chặt, vẫn nguyên những vết máu bầm. Những con gà phía dưới ngửi thấy mùi máu phía trên. Chúng thấy nội tạng những anh em chúng nằm quanh đó. Chúng biết mình sẽ là người kế tiếp nhưng chúng không dám nổi dậy, không dám thoát ra khỏi lồng.
Chuyện tương tự vậy cũng đang diễn ra với con người ở đất nước này.
Thử nhìn ngắm đường phố Delhi về đêm; chốc lát ngài sẽ thấy người đàn ông đạp chiếc xe kéo trên đường với chiếc giường lớn, chiếc bàn buộc trên xe. Hàng ngày, đồ đạc được được chuyển tới nhà mọi người bởi người đàn ông này – người giao hàng. Chiếc giường giá khoảng năm ngàn rupee, có thể là sáu ngàn. Thêm chiếc ghế, chiếc bàn, giá cỡ khoảng 10-15 ngàn. Người đàn ông trên chiếc xe chuyển, giường, bàn, ghế, này có khi chỉ nhận khoảng năm trăm rupee một tháng. Anh ta dỡ đồ cho ngài, ngài đưa anh ta tiền – cục tiền bự cỡ viên gạch. Anh ta cho tiền vào túi quần, hoặc túi áo, hoặc quần trong và lại đạp xe về đưa tiền cho chủ mà không dám chạm vào đồng xu nào! Số tiền tương đương một năm, hai năm tiền lương trong tay và anh ta không bao giờ dám đụng một xu.
Hàng ngày trên đường ở Delhi, vài lái xe lại lái chiếc xe trống với chiếc vali đen phía sau. Trong đó là một, hai triệu rupeee, nhiều hơn cả số tiền anh ta nhìn thấy cả đời. Nếu lấy, anh ta có thể trốn tới Mỹ, Úc hay bất cứ đâu để bắt đầu cuộc đời mới. Anh ta có thể vào các khách sạn năm sao mà cả đời anh mơ tưởng mà chỉ có thể nhìn thấy từ bên ngoài, có thể đưa cả gia đình tới Goa hay Anh Quốc. Nhưng anh ta vẫn chỉ đưa chiếc va li tới nơi nào mà ông chủ muốn. Anh ta đặt nó vào nơi phải đặt và không bao giờ dám chạm vào một đồng. Tại sao vậy?
Có phải vì dân Ấn là những người trung thực nhất thế giới, giống như cuốn sách nhỏ của ngài thủ tướng sẽ nói cho ngài chăng?
Không hề. Đó chỉ vì 99.9% chúng tôi bị mắc kẹt trong Chiếc Lồng Gà này giống như những gã nghèo ở ngoài chợ bán gia cầm kia.
Chiếc Lồng Gà luôn hoạt động với những số tiền nhỏ. Đừng thử người lái xe với một hay hai đồng rupee – anh ta có thể dám trộm số tiền lớn đó. Nhưng nếu để một triệu đô trước mặt người hầu thì anh ta sẽ chẳng dám chạm một cắc. Cứ thử đi: để chiếc túi đen với một triệu đô trên chiếc taxi ở Mumbai. Người lái taxi sẽ gọi cho cảnh sát và sẽ giao tiền vào cuối ngày. Tôi cam đoan vậy. (Cảnh sát có trả tiền hay không thì là câu chuyện khác thưa ngài!) Các ông chủ ở đây có thể tin tưởng giao người hầu kim cương! Sự thật là thế. Tối tối, hàng đoàn tàu lại rời khỏi Surat, nơi họ có ngành cắt và đánh bóng kim cương lớn nhất thế giới, người hầu các ông chủ buôn cầm những vali đầy nhách kim cương. Tại sao những người hầu không lấy chiếc vali đầy kim cương đó? Anh ta chẳng phải Gandhi mà cũng chỉ là người giống như ngài và tôi. Đó là vì anh ta mắc trong Chiếc Lồng Gà. Sự đáng tin của những người hầu chính là nền tảng của toàn bộ nền kinh tế Ấn.
Chiếc Lồng Gà Đại Ấn. Ngài có gì tương tự vậy ở Trung Quốc không? Tôi nghi ngờ điều đó, thưa ngài Gia Bảo. Hay ngài không cần Đảng Cộng sản bắn người và rồi cảnh sát mật sẽ đến đột kích nhà họ vào buổi đêm rồi đưa họ vào tù như tôi vẫn nghe thấy. Ở Ấn Độ chúng tôi không có chế độ độc tài. Cũng chẳng có cảnh sát mật.
Đó là vì chúng tôi có chiếc lồng gà.
Không ở đâu trong lịch sử loài người mà một nhúm rất nhỏ lại kiểm soát tới nhiều người tới vậy ngài Gia Bảo. Một nhúm người ở đất nước này đã rèn cho 99,9% còn lại – cũng khỏe mạnh, tài năng và thông minh trên mọi khía cạnh – có tư duy nhẫn nhịn phục dịch dài lâu tới vậy. Tư duy phục dịch này mạnh tới mức nếu ngài đưa chiếc chìa khóa giải phóng vào tay thì anh ta sẽ ném chiếc chìa khóa lại phía ngài kèm theo câu chửi thề.
Ngài phải tới đây và tự chứng kiến thì mới tin được. Hàng ngày hàng triệu người thức dậy từ tinh mơ – chen chúc trong những chiếc xe bus bẩn thỉu – đi tới những ngôi nhà sang trọng của ông chủ – rồi lau nhà, rửa bát, nhổ cỏ trong vườn, cho lũ trẻ ăn, đấm bóp chân cho chủ – để nhận vài đồng thù lao rẻ mạt. Tôi sẽ không bao giờ ghen tị sự giàu có của nước Mỹ hay Anh Quốc, ngài Gia Bảo. Ở đó họ không có người hầu và thậm chí chẳng hiểu cuộc sống tốt đẹp là thế nào nữa.
GIờ một người có suy nghĩ như ngài, ngài Thủ tướng, sẽ phải hỏi hai câu.
Tại sao Chiếc Lồng Gà hoạt động? Làm sao nó giữ hàng triệu đàn ông và phụ nữ tài đến vậy?
Thứ hai là, liệu một người có thể thoát khỏi cái lồng? Ví dụ, nếu một ngày người lái xe lấy tiền của ông chủ và trốn đi, đời anh ta sẽ thế nào?
Tôi sẽ trả lời cả hai câu cho ngài.
Với câu thứ nhất, đó là danh dự và vinh quang của đất nước tôi, đó là nơi ủy thác tất cả tình yêu và sự hi sinh – chủ đề chắc chắn chiếm vị trí không nhỏ trong cuốn sổ tay ngài thủ tướng sẽ trao cho ngài -, chính là gia đình Ấn, là lí do chúng tôi mắc kẹt vào trong chiếc lồng này.
Câu trả lời cho câu hỏi thứ hai là chỉ có kẻ nào sẵn sàng chấp nhận thấy gia mình bị hủy hoại – bị truy nã, đánh dập, thiêu sống bởi các ông chủ – mới có thể thoát khỏi lồng. Điều đó thì không có người nào mà chỉ có con quái vật, kẻ vô đạo mới dám.
Thực tế sẽ cần một Con Hổ Trắng để làm vậy và ngài đang lắng nghe câu chuyện của một doanh nhân xã hội thưa ngài.
(Trích White Tiger của Aravind Adiga)
Dân Đông Đức có nguồn gốc từ vượn được không? Không thể. Vượn không thể sống chỉ với hai trái chuối mỗi năm. Những chuyện tiếu lâm kiểu vậy từng được đùa với nhau ở Đông Đức – và tình báo Tây Đức đã ghi lại chi tiết chuyện này để hiểu dư luận chế độ đối nghịch. Những chuyện sau đây mới được công bố trong các hồ sơ tình báo.
“Điều gì xảy ra nếu sa mạc trở thành cộng sản? Lúc đầu thì chẳng sao, còn sau đó thì sẽ thiếu cát đấy.” Những chuyện cười kiểu vậy lưu truyền nhiều trong những người Đông Đức dưới thời cộng sản. Tình báo Tây Đức thu thập như một cách để đánh giá tâm trạng dư luận trong thời Bức màn Sắt, vừa để vui lòng các ông chủ ở Bonn – thủ đô của Tây Đức.
Đây là câu chuyện khác: “Tại sao Tây Đức lại có mức sống cao hơn chúng ta? Vì người cộng sản không xin được giấy phép lao động ở đó.” Loại xe Trabant hay Trabi, thứ xe hơi huyền thoại của Đông Đức với động cơ hai thì kêu lọc xọc cũng là chuyện đùa được ưa thích khác. Kiểu như thế này: “Loại xe Trabi mới được xuất xưởng với hai ống xả – để bạn có thể dùng làm xe cút kít khi cần.”

Huyền thoại xe Trapi cũng được lôi ra làm trò đùa
Những câu chuyện đùa kiểu vậy được lượm lặt bí mật từ các lá thư đã được mở hay các cuộc điện thoại mà các điệp viên từ Bundesnachrichtendienst của Tây Đức theo dõi được trong quá trình theo dõi Đông Đức thời chiến tranh Lạnh. Cơ quan tình báo khắp thế giới thường coi trọng từng mẩu tin họ có được và BND cũng không khác gì. Họ tỉ mẩn thu thập và lưu lại các chuyện hài và gửi về Bonn trong các mùa lễ hội hàng năm – điều làm các quan chức rất vui mừng. Và mới gần đây BND mới công bố các file lưu trữ bí mật về chuyện tiếu lâm này.
Báo cáo về chuyện tiếu lâm thực tế là báo cáo nổi tiếng nhất của lực lượng tình báo. “Đó là cú đánh nổi bật nhất,” cựu điệp viên BND Dieter Gandersheim nhớ lại. Văn phòng thủ tướng và các vị bộ trưởng luôn háo hức chờ các báo cáo này.
Các câu chuyện không chỉ làm không khí văn phòng của các vị vui thêm, các mẩu tiếu lâm này cho biết người dân thường Đức nghĩ gì về chế độ của mình và các sự kiện đương đại.
Ví dụ khi vụ nổ Chernobyl xảy ra hồi năm 1986, ngay lập tức ở đây xuất hiện câu thành ngữ: Nếu ông nông dân ngã khỏi máy cày, ông ta chắc chắn đang gần lò hạt nhân nào đó. Tình cờ thì Chenobyl không phải là tai nạn chẳng hạn thì lại có chuyện cười khác: Đó là cách Liên Xô chụp X-quang dân số nước mình.
Người Đông Đức không ngại đả kích ngầm các chính trị gia hay các tầng lớp quan liêu hay tình trạng thiếu đồ kinh niên ở đây. Bất chấp việc này có thể gây nguy hiểm cho họ.
“Các chuyện tiếu lâm chính trị phát triển mạnh dưới thời các chế độ độc tài,” Christoph Kleeman, một cựu quan chức của cơ quan Birthler – cơ quan thành lập sau khi thống nhất Đức để theo dõi các tài liệu mật thời Đông Đức của Stasi – nói “Khi nói hay cười với người nào đó, thực tế họ tự tạo cho mình dân chủ trong khoảng thời gian ngắn, và đem được những nhà lãnh đạo đó xuống cùng mức của mình.”
Đùa với lửa
Khi Giáng Sinh bị hủy không được tổ chức, lại có thêm chuyện đùa khác. Mary không tìm thấy tã cho đứa bé Jesus, Josef bị gọi đi lính và ba nhà vua không kiếm được giấy phép đi lại. Các báo cáo chuyện cười của BND thường được đi kèm với các phân tích tình hình chính trị và kinh tế của CHDC Đức.
Đầu những năm 1980, khi chính phủ Ba Lan áp dụng tình trạng thiết quân luật để đối phó với các cuộc biểu tình chống việc tăng giá lương thực, yêu cầu cải cách chính trị, BND báo rằng công nhân Đông Đức cũng bắt đầu đình công và đưa phân tích sau:
“Lãnh đạo CHDC Đức tin rằng dân nước mình chịu đựng tốt và sẵn sàng hi sinh. Dù vậy họ sẵn sàng hành đông cứng rắn nếu cần thiết để ngăn cản ‘tình cảnh Ba Lan’ diễn ra.” Họ thêm một chương về “Tiếu lâm chính trị về tình hình cung cấp đồ.” Ví dụ thế này: “Tại sao không kiếm được đinh ghim ở Đông Đức nữa nhỉ? À vì chúng được bán hết sang Ba Lan để làm xiên kebab rồi.”
“Nói chuyện đùa chính là đùa với lửa,” Kleeman nói. Lực lượng Stasi có 91.000 nhân viên chính thức và 189.000 thông tín viên dân sự để dọ thám 17 triệu dân Đông Đức. Họ coi mọi chuyện đùa chính trị là một nguy cơ. Bất cứ ai kể chuyện đùa ám chỉ người đại diện chính quyền đều có thể bị truy tố.
“Có những trường hợp người bị tù, đặc biệt trong giai đoạn 1950 và 1960,” Kleeman nói.
Đây là ví dụ về mức độ nguy hiểm được đả kích thế nào: “Có những người thích kể chuyện hài. Có những người thu thập chuyện hài và kể chuyện hài. Và có những người thu thập những người chuyên kể chuyện hài.”
(Spiegel)
By MAUREEN DOWD
When he heard the Nobel Peace Prize shocker on Friday, Bill Clinton went into one of his purple rages. He picked up the phone and dialed the one person on earth who would be as steamed as he was.
CLINTON: Hey, man, it’s me. This thing is plumb crazy. Can you believe it?
W: No way, Jose!
CLINTON: First that prig Carter. Then that prig Gore. And now President Paris Hilton. The guy’s in office three days and he gets the peace prize? He should have gotten the Nobel in chemistry, because chemistry’s all he’s got. Talk about a fairy tale. This … is … just … wrong! It’s killing me, man. I feel like my head’s explodin’. First I had the vast right-wing conspiracy, and now I have the vast left-wing conspiracy.
W.: I hear ya, 42. As if his head wasn’t big enough. This cat is all cage, no bird. He doesn’t have a clue.
CLINTON: Heck no.
W.: See, I’m the one who should be mad. Let me tell you, this Norwegia thing has nothing to do with him. It’s just another way for the pinkos of the world to drop a cow patty on my legacy. All that garbage in the prize statement about how special La Bamba is for bringing back wimpy multilateral diplomacy, dialogue and negotiations, the kind my dad and Scowcroft loved. Those Nobel ninnies are so lulu left they make the U.N. look like a Fox jamboree. The rookie already got rewarded once for not being me when he got elected. Gosh, what would he do without me?
CLINTON: Fine, but you never expected to win this prize. You were the quote-unquote war president and proud of it. I had to put up with a gazillion hours of Arafat’s insanity, but I guess that still wasn’t enough for those Oslo ice queens. I guess ending ethnic cleansing in Bosnia wasn’t enough, or bringing peace to Northern Ireland. And I guess my work with the Clinton Global Initiative saving lives in Africa and hanging with Bono and Barbra wasn’t enough.
W.: Calm down, bro. You gotta take care of that ticker.
CLINTON: It was a case of premature adulation.
W.: Heh-heh-heh. Yeah, very pre-emptive, sort of like Cheney’s pre-emptive war policy.
CLINTON: If they weren’t going to give it to me, they should at least have given it to the Chinese human rights movement or the Iranian protesters or AIDS workers in the Congo. Or even Bono.
W.: Yeah, man. Bono.
CLINTON: That would have helped make life better for the good guys and harder for the bad guys. Once again, action loses out to talk, just like with Hillary and Obama in the campaign. Nobel Prize for blah-blah-blah. Heck, I used to be considered a pretty good talker myself.
W.: It’s aggravating, I agree. But look at it this way, 42. Everybody’s laughing at La Bamba. He gets a Nobel for nada. Being loved by Europeans isn’t gonna do him any good here in the U.S. of A. I whupped that Frenchy Kerry, didn’t I?
CLINTON: The only peace Obama has made is bringing together the Taliban, Rush Limbaugh, the Palestinians and the Israelis to agree the guy is undeserving. It just confirms everyone’s suspicion that all this dude knows how to do is dazzle.
W.: He doesn’t want to be a Decider. He wants to be a Transformer. He transformed, all right — from Miss America to Miss Universe. He’s a five-spiral crash, and getting the gold is just a reminder of all he hasn’t done. He’s going to have to look over and see that big medallion hanging up there in the Oval, mocking him as an empty suit, a pretty boy beloved by the Blame-America-First crowd, whenever he has to send more troops to Afghanistan, or the Taliban act up, or Iran fires up for nukes.
CLINTON: Maybe you’re right, George. Some winners think the Nobel’s the kiss of death. Any peace prize that goes to Henry Kissinger but not Gandhi ain’t worth a can of Alpo. Heck, if Gandhi had known he was going to lose out to Henry the K, he could have had more time to eat french fries and chase girls.
W.: And finish getting dressed. Heh-heh-heh.
CLINTON: Barack’s going to give that $1.4 million away to charity. I got a charity. How ’bout he just signs it over to me? Speaking of money, we need to do another of those joint lecture things.
W.: I’m fairly footloose. This is the beginning of a beautiful friendship. Go choke on a herring, Norwegia!

“Đây là giải thưởng an ủi cho nước Mỹ sau khi Chicago đã thất bại trước Rio de Janeiro trong cuộc chạy đua đăng cai Thế vận hội 2016.” Tờ Economist đã bình luận vậy sau khi tổng thống Obama bất ngờ được trao giải Nobel hòa bình 2009.
Mới 9 tháng cầm quyền, giải thưởng Nobel được trao cho Barack Obama đang bị chỉ trích là quá sớm và vội vàng. Điều thú vị là những chỉ trích này đến mạnh mẽ nhất từ nước Mỹ, nơi tổng thống Obama vẫn đang nhận được sự ủng hộ cao hơn 50%. Thăm dò tại các kênh truyền hình của Mỹ cho thấy phần lớn người dân đều nói “không” với giải Nobel cho Obama. Tờ New York Times gọi giải thưởng là “trách nhiệm chính trị – có lẽ là gánh nặng hơn là vinh quang – cho ông Obama.” Tờ LA Times bình luận “ông thua khi giành giải thưởng” và gọi giải thưởng là “kỳ cục” dù tự nhận là những người “ủng hộ tổng thống.” Hữu khuynh như Wall Street Journal thì đánh giá quyết định của Ủy ban Nobel là “gây tranh cãi” và trích cho rằng quá trình chọn lựa là “thiếu minh bạch.” Washington Post nhân nhượng hơn khi giải thích giải thưởng được giành cho khát vọng hơn là thành tích và lấy ví dụ Yasser Arafat, Shimon Peres và Yitzhak Rabin đoạt giải thưởng hồi năm 1994 sau khi đạt được thỏa thuận Oslo về hòa bình cho Trung Đông.
Tại Oslo, các phóng viên tại phòng họp báo cũng chất vấn rất căng về quyết định này, Đại diện Ủy ban Nobel đã lúng túng thấy rõ khi phóng viên hỏi nếu Obama sẽ sa lầy tại Afghanistan như Johnson thời chiến tranh VN thì sao. Thorbjorn Jagland chủ tịch Ủy ban sau đó trả lời “chúng tôi trao giải cho khát vọng” và “chúng tôi không đoán định tương lai.”
Thông thường, giải Nobel sẽ được trao cho các chính khách khi họ đạt được những thành tựu chính trị cụ thể. Theodore Roosevelt nhận giải năm 1906 vì giúp thúc đẩy hiệp định hòa bình Nga-Nhật. Woodrow Wilson vinh danh năm 1919 vì giúp tạo ra Hội Quốc Liên (tiền thân của LHQ). Martin Luther King đoạt giải năm 1964 nhờ những nỗ lực đấu tranh vì quyền cho người Mỹ gốc Phi. Dù Ủy ban Nobel của Nauy nói giải thưởng được trao cho những “nỗ lực thúc đẩy quan hệ quốc tế và hợp tác giữa con người” nhưng tới giờ, tổng thống Mỹ vẫn chưa đạt được thành công cụ thể nào.
Các bài diễn văn hùng hồn và sáng kiến ngoại giao nhằm tìm đột phá cho các cuộc xung đột của Obama đến nay là đáng ghi nhận nhưng tất cả mới chỉ là khởi đầu. Trao giải Nobel cho Obama giờ giống như trao huy chương cho VĐV marathon khi mới chạy được vài km đầu. Tình hình Iraq chưa ổn định, tình thế ở Afghanistan còn khó khăn hơn. Dù chính quyền Mỹ đã rất nỗ lực, hiện hầu như có rất ít khả năng để Israel và Palestine đạt được nhượng bộ ở Trung Đông. Iran, CHDCND Triều Tiên tiếp tục múa may với các chương trình hạt nhân của mình. Ngoài ra, chưa kể, tổng thống Obama có thể thay đổi chính sách và các định hướng đối ngoại của mình trong thời gian cầm quyền – thậm chí là từ bỏ tất cả.
Một giải thưởng như vậy rõ ràng là vội vàng. Giới phân tích cho rằng ủy ban Nobel hoàn toàn có thể để ông Obama trong danh sách chờ cho tới năm 2011 (khi đã có những thành quả cụ thể của chính sách) và trao giải năm 2009 cho một nhân vật hoạt động vì hòa bình nào đó thì tốt hơn. Tại Nhà Trắng, chánh văn phòng Rahm Emanuel cũng thừa nhận các cố vấn của Obama chưa bao giờ nghĩ và bàn thảo tới khả năng Obama sẽ giành giải Nobel hòa bình trong năm nay. Cố vấn chính trị David Axelrod thì nói thậm chí không biết chuyện ông chủ của mình đã được đề cử.
Trong bài diễn văn chấp thuận từ Nhà Trắng, ông Obama đã đủ khôn ngoan để tỏ ra khiêm tốn khi chấp thuận giải thưởng. “Tôi không cảm thấy mình xứng đáng đứng trong hàng ngũ của rất nhiều những nhân vật tạo thay đổi từng được giải thưởng vinh danh…” – ông nói.
Đã có nhiều người hỏi phải chăng Ủy ban Nobel Nauy đã đùa với giải thưởng. Stephen Stromberg của Washington Post giải thích lý do thật của giải Nobel là Obama vài ngày trước đã quyết định vinh danh một nhà thám hiểm Nauy cách đây hơn 1.000 năm đã đặt chân lên nước Mỹ. Giờ đáp lại, Nauy đã trao giải thưởng lại cho ông.
Giải Nobel văn học 2009 đã được trao cho nhà văn người Đức gốc Romania Herta Mueller. Lý giải cho quyết định của mình, viện Hàn Lâm Thụy ĐIển giải thích cho quyết định là bà Mueller “với sự cô đọng của thơ và sự chân thật của những dòng văn viết đã khắc họa được bức tranh của những người bị tước đoạt.”

Herta Mueller sinh ngày 17-8 năm 1953 tại thị trấn Nitzkydorf của Banat, Romania. Cha mẹ bà thuộc cộng đồng nói tiếng Đức thiểu số của đất nước Đông Âu này. Trong thời gian chiến tranh thế giới thứ II, cha bà là thành viên của lực lượng vũ trang Waffen SS của quốc xã Đức. Rất nhiều người Đức gốc Romania đã được đưa đến Liên Xô năm 1945, trong đó có mẹ của bà Mueller, người đã phải sống trong trại lao động trong 5 năm ở Ukraine. Nhiều năm sau, trong cuốn Atemschaukel (2009), Mueller đã kể về cuộc sống của những người Romania gốc Đức ở Liên Xô. Từ năm 1973 tới 1976, Mueller học văn học Đức và Romania tại ĐH Timişoara (Temeswar). Trong giai đoạn này, bà gắn liền với nhóm Aktionsgruppe Banat, một nhóm tác giả trẻ viết văn học tiếng Đức, những người đấu tranh về quyền tự do ngôn luận. Sau khi học xong, bà làm người phiên dịch tại một nhà máy từ năm 1977 tới 1979. Bà đã bị đuổi việc sau khi từ chối làm nội gián cho lực lượng cảnh sát mật. Sau khi đuổi việc, bà còn tiếp tục bị lực lượng an ninh Securitate đe dọa.
Mueller bắt đầu trình làng văn chương với tuyển tập truyện ngắn Niederungen (1982) ở Romania (đã qua kiểm duyệt). Hai năm sau, bà xuất bản bộ sách không kiểm duyệt ở Đức và cùng năm đó cho ra cuốn sách Drückender Tango ở Romania. Ở trong hai cuốn sách này, Mueller kể cuộc sống tại ngôi làng nói tiếng Đức nhỏ nơi những tệ nạn như tham nhũng, đàn áp diễn ra triền miên. Báo chí nhà nước Romania khi đó đã phê phán rất mạnh các tác phẩm này trong khi đó ở ngoài Romania, báo chí Đức lại rất ca ngợi. Vì Mueller đã công khai chỉ trích chế độ độc tài ở Romania, bà bị cấm xuất bản ở trong nước. Vào năm 1987, Mueller ra đi cùng với chồng là nhà văn Richard Wagner về Đức.
Các tiểu thuyết Der Fuchs war damals schon der Jäger (1992), Herztier (1994), The Land of Green Plums (1996), Heute wär ich mir lieber nicht begegnet (1997) và The Appointment (2001) đã khắc họa những chi tiết sống độc, chân thực về cuộc sống dưới chế độ độc tài. Mueller đã đi giảng tại một loạt các trường ĐH và các địa điểm tại Paderborn, Warwick, Hamburg, Swansea, Gainsville (Florida), Kassel, Göttingen, Tübingen và Zürich. Hiện bà đang sinh sống tại Berlin, Đức.
Hầu hết các tác phẩm của bà cho đến nay đều bằng tiếng Đức, nhưng một số tác phẩm đã được dịch ra tiếng Anh, tiếng Pháp và tiếng Tây Ban Nha. Trong lĩnh vực mà các tác giả nam vẫn chiếm thế chi phối, Mueller là người phụ nữ thứ 12 nhận giải Nobel Văn học. Những tác giả nữ thắng giải gần đây nhất có Elfriede Jelinek của ÚC vào năm 2004 và tác giả người Anh Doris Lessing vào năm 2007.
Với giải thưởng này, nhà văn sẽ nhận phần thưởng là 10 triệu kronor Thụy ĐIển (1,4 triệu USD) cùng với bằng chứng nhận được trao tại Stockholm vào cuối năm nay.
Ngoài giải Nobel văn học, các giải Nobel y học, vật lý và hóa học năm 2009 đều đã được trao. Trong ngày 9-10 giải Nobel kinh tế cũng sẽ được công bố.
—————————-
Đây là giải thưởng Nobel văn học thứ 102 kể từ lần đầu vào năm 1901. Đã có bảy lần giải thưởng không được trao vào các năm 1914, 1918, 1935, 1940, 1941, 1942 và 1943. Giải thích lý do, quỹ Nobel nói “Nếu các tác phẩm được xem xét không có tác phẩm nào đủ quan trọng như đề ra ban đầu thì số tiền thưởng sẽ được giữ cho tới năm tiếp theo. Và nếu đến khi đó vẫn không trao được giải thì số tiền sẽ được Trong thời gian chiến tranh TG I và II cũng không có giải Nobel nào được trao.
Trong khi việc cùng chia sẻ các giải thưởng là rất phổ biến ở các lĩnh vực khác, trong giải Nobel văn chương, rất hiếm khi điều này xảy ra. Trong lịch sử hơn 100 năm của mình, chỉ có 4 lần giải Nobel Văn học được trao cho hai người vào các năm 1904, 1917, 1966 và 1974.
Cho đến nay có hai người đã từ chối giải Nobel là nhà văn Boris Pasternak của Liên Xô vào năm 1958 và nhà văn người Pháp Jean Paul Sartre vào năm 1964. Nhà văn trẻ nhất từng đoạt giải Nobel là Rudyard Kipling (người Anh) vào năm 1907 khi 42 tuổi. Nhà văn già nhất đoạt giải cũng là một người Anh khác là Doris Lessing vào năm 2007 khi đã 88 tuổi.
Rất nhiều người nghĩ rằng cựu thủ tướng Anh Winston Churchill từng đoạt giải Nobel Hòa bình nhưng thực tế ông giành giải Nobel văn học vào năm 1953. Cho đến nay ông vẫn được coi là người nhận giải gây ngờ nhất của Nobel Văn học.
Quá trình đề cử và ý kiến của hội đồng Nobel văn học mỗi năm sẽ được giữ bí mật trong vòng 50 năm.
Nếu gột rửa hết những gì xót xa
chúng ta sẽ đi đâu trong những buổi chiều tà…?
Chúng ta sẽ bước bằng bước chân nào để những khốn khó thôi làm phiền những ngón chân kia?
Buổi chiều đó có thể bắt đầu bằng một cơn mưa
cho người này nhìn người kia mà lòng ngơ ngác
sao phải đánh đổi cả cuộc đời mới được bình yên đứng cạnh nhau giữa trời đất?
một phút giây tự nhủ thôi không còn tin vào mất mát
chúng ta khóc bằng cả một trời mưa…
Cho người này xâu vào tóc người kia một viên đá lạnh lấy từ tách café
rồi nhìn viên đá tan đi như đang ngày gió bấc
cho người kia sửa cổ áo cho người này mà không hề biết
trái tim mình đập nhịp trên đầu những ngón tay
Chúng ta bước ngang con phố và ngồi xuống với vỉa hè này
rồi lại đứng lên và ngồi ở một góc vỉa hè khác
những người vô gia cư sẽ hỏi chúng ta đang yêu hay luyến tiếc?
đang tìm kiếm niềm vui hay trối trăn những mất mát?
đang cô đơn hay tất bật
nắm giữ một ngày dài…?
Buổi chiều đó có thể bắt đầu bằng một vệt nắng ấm đeo vào vành tai
cho người này lấy tay che dùm người kia sợ thêm da mồi tóc bạc
ăn một ly chè đầy để thấy mình chẳng thèm cay đắng
một tiếng cười vui thấm buốt tận sâu trong đuôi mắt
còn được mấy khi…
Có những cái nắm tay cuối đời không biết nói lên được điều gì
lúc người kia lãng quên và người này còn nhớ
một người nắm tay mình bước đi, vậy thôi, chẳng cần hỏi rõ
quen hay lạ thì cái nắm tay cũng đã là một điểm tựa
nhắc nhở mình cần nhau…
Buổi chiều đó có thể là một ngày mùa đông rét buốt trên đầu
cho người này hôn người kia qua vệt môi chung trên tách choco nóng
buổi chiều đó có thể là một ngày mùa hè mệt nhọc
cho người kia thấm giọt mồ hôi của người này bằng một giọt mồ hôi khác
cùng rơi…
Trong những buổi chiều tà chúng ta sẽ đi mà không cần biết đường chân trời…
Nguyễn Phong Việt
Cải cách IMF là điều đã được thống nhất tại Pittsburg (Mỹ) cách đây hơn hai tuần. Các nước giàu giờ khó có thể đi ngược lại xu hướng này nhưng châu Âu đang không vui vẻ trước những thay đổi mới.
Phiên họp mùa thu của World Bank và IMF bắt đầu hôm qua tại Istanbul (Thổ Nhĩ Kỳ). Bộ trưởng và quan chức tài chính của 186 vùng lãnh thổ đã cùng tề tựu về đây để thảo luận các vấn đề kinh tế, đặc biệt là vấn đề thay đổi lại cơ cấu bỏ phiếu của IMF. Tại Pittsburg, các nước giàu cùng đồng ý sẽ phải thay đổi tỉ lệ bỏ phiếu IMF theo hướng trao nhiều quyền hơn cho các nền kinh tế mới nổi. Nền kinh tế lớn nhất thế giới là Mỹ không bị ảnh hưởng nhiều nhưng các cường quốc của cựu châu lục sẽ là nước bị ảnh hưởng nhiều bởi các quyết định này.
Trật tự mới của kinh tế thế giới giờ không thể bỏ qua các nền kinh tế mới nổi. Các thị trường này tăng trưởng nhanh gấp 3 lần các nước giàu trong giai đoạn 2000-2007. IMF hồi tuần trước dự đoán các nước mới nổi sẽ tăng trưởng 5,1% trong năm 2010 gấp hơn 3 lần so với 1,3% của các nước phát triển. Các nền kinh tế mới nổi giờ đã chiếm tới gần ½ nền kinh tế toàn cầu nhưng chỉ chiếm khoảng 1/3 tỉ lệ bỏ phiếu tại IMF. Đặc biệt, tỉ lệ bỏ phiếu của Trung Quốc hiện với chỉ tương xứng với ½ quy mô GDP của nước này trong kinh tế toàn cầu. Tại châu Âu, một số nước như Bỉ, Thụy ĐIển là những nước có tỉ lệ bỏ phiếu gấp 3 tỉ lệ quy mô GDP. Những cải cách mới sẽ giảm dần những bất hợp lý này và lấy bớt quyền lực của các nước này.
Ở Pittsburg, G20 đồng ý các nước giàu ở IMF sẽ giảm ít nhất 5% quyền bỏ phiếu (các nước mới nổi muốn ít nhất 7%) nhưng đến giờ các nước không phải hoàn toàn đồng ý với thay đổi mới. Bộ trưởng tài chính Anders Borg của Thụy Điển – nước đang giữ chức chủ tịch luân phiên EU – cảnh báo thẳng châu Âu sẽ không đóng góp nhiều cho IMF nữa nếu bị giảm quyền kiểm soát ở đây. “Quyền tham gia đầy đủ trong quá trình ra quyết định…là điều kiện tiên quyết để tiếp tục ủng hộ các đóng góp tài chính lớn.”
Ngoài lý do công bằng, nguyên nhân chính để cải cách là hi vọng các nước sẽ “lắng nghe” IMF hơn nếu tổ chức này mang tính đại diện cao hơn. Phát biểu với Reuters, bộ trưởng tài chính Brazil Guido Mantega nói “Các nước phát triển đang được đại diện quá nhiều (tại IMF) nên nhận ra rằng họ sẽ làm tổn thương quỹ nếu họ ngăn cản hay trì hoãn các thay đổi về quota.”. Ông cho rằng giờ đến lúc quỹ nên thay đổi để “không còn chủ yếu là định chế Mỹ-Âu ” nữa.
Cải cách là cần thiết để các nước như Trung Quốc (sẽ trở thành nền kinh tế thứ 2 thế giới trong năm nay), Ấn Độ, Brazil, Nga thấy rằng tổ chức kinh tế hàng đầu thế giới đang phục vụ lợi ích của chính họ cũng như các nước giàu. Ngược lại, các nước giàu cần nhượng bộ để thúc đẩy các nước mới nổi cải cách, mở thị trường, thúc đẩy kinh tế toàn cầu tăng trưởng, tạo thêm việc làm mới.
Với 1.000 tỉ USD tập hợp được, IMF đang thay đổi dần để trở thành mô hình ngân hàng trung ương của toàn cầu. Robert Zoellick, Chủ tịch World Bank từng nói “Bretton Woods đang thay đổi trước mắt chúng ta.” Để thay đổi, sẽ cần sự nhượng bộ thực sự của những quyền lực cựu trào. Và nhượng bộ thì không bao giờ vui vẻ gì.